28.645 chữ · ~191 phút đọc
Trong Tam công, trước nay là hai Tể tướng một Tướng quân (*两相一将), Dư và các chư quân đều không có gì dị nghi. Nhưng mà trong tướng tinh (*将星) có thể có nữ tử à? Thời Hiếu Võ triều từng có lệ nữ tử có thể tạm thời quản lý ba quân. Dư và Tấn Dương lệnh Trạch luận, Trạch thưa rằng đó là kế nhất thời, cuối cùng thì tướng tinh giả chính là võ trung công họ Vân. Vân mất, Thiên tử khóc tại sảnh, ba ngày không lên triều, có thể hiểu phần nào. Dư mỉm cười nói, để nữ tướng nhập hậu cung, có thể là một cách. Trạch không cho là đúng, nói tất cả là vọng ngôn, Võ thiên tử và nữ nhân không tư tình. Trạch luôn ngưỡng mộ Võ triều, ta lý luận sắc bén, đã vậy, sử sớm xóa nhòa, Dư và Hữu chẳng qua chỉ nói lời ngông, dò xét chuyện Thánh triều, sao có thể định luận?
(*) Chữ tướng (*相) của Tể tướng và tướng (*将) trong Tướng quân là hai từ khác nhau, đồng âm trong tiếng Việt.
-[ Dã thú · Thuyết sử thiên ]
Mười năm trước, Bình vương nhờ một thầy tướng số để coi đại vận Bình Cảnh. Nghe đâu thầy tướng kia là con của Quốc sư tiền triều Chử thượng nhân, coi bói văn vương chuẩn lắm, gõ mai rùa một cái là tính được càn khôn. Cả đời của Bình vương rất ứng với phong hào ‘Bình’ của mình. Hồi nhỏ không xuất chúng gì, trưởng thành giữa đám vương tử, sau khi được phong vương cũng lặng lẽ chìm giữa các ca ca. Ai làm Thiên tử cũng chả liên quan gì đến hắn, lúc đại hôn thì lại cưới một Vương phi tầm thường, chưa tới hai năm bình an đẻ ra được đứa con trai, dù đứa con này từ khi mới sinh đã luôn gầy yếu, các Thái hậu Thái phi nhìn một cái rồi bỏ qua ngay nhưng Bình vương vẫn rất hài lòng. Ít nhất nó vẫn là một đứa bé trai. Bình vương Thế tử từ từ lớn lên, cũng giống như Bình vương hồi nhỏ, chìm lẫn giữa một đám vương tử đẹp đẽ xán lạn, lại bắt đầu một cuộc đời bình đạm.
Thầy tướng lắc mai rùa, cặp mắt nhỏ xíu sáng trưng, cười nói: “Quẻ này tốt đấy.” Mắt Bình vương cũng sáng lên. Tốt thế nào? Chẳng lẽ sau này hắn có thể trở thành người có tiền nhất trong các vương huynh, là đại hiền vương được bách tính yêu quý nhất như Mục vương? Hay là sáng nào đó con trai của ca ca chết đi thì con trai của hắn sẽ thuận lợi được kế thừa ngôi Hoàng đế, hắn về già sẽ được làm cha Hoàng đế? Hay là có một nửa đất đai trên toàn thiên hạ năm nào đó không mọc cỏ, ca ca hắn giận quá nói, đưa hết cho Bình vương luôn đi?! Bình vương mơ tưởng hão huyền, trái tim đập bình bịch hỏi: “Tốt thế nào?”
Thầy tướng cười ha hả, “Vương gia có phúc lớn, lúc ngài vẫn còn sống, Bình Cảnh sẽ được thái bình như hôm nay.”
Hai mắt Bình vương lập tức mờ đi, phất tay ủ rũ. Nhưng ông thầy tướng lại vân vê chòm râu không chịu đi, phân vân nói: “Có điều là, trong đại vận sẽ gặp một nạn nhỏ, không biết nên nói hay không…”
Hứng thú của Bình vương biến mất, ngáp dài: “Tiên sinh có nói trước cũng chẳng có cách nào. Dù sao năm nào cũng lụt lội, lương thực đất phong không đủ…”
Thầy tướng cắt ngang lời hắn: “Không phải đơn giản như vậy đâu. Theo như quẻ bói, Bình Cảnh sẽ gặp phải nữ họa.”
“Nữ họa là sao?” Mắt Bình vương lại sáng rỡ, cuộc sống hằng ngày tẻ nhạt vậy rồi, nếu có một Đắc Kỷ, Bao Tự xinh đẹp bò vào tâm can hắn thì coi như cũng không uổng đời này.
“Giống như, giống như là… nếu không có chuyện ngoài ý muốn, vùng đất quý này sẽ sinh ra hai vị Vương phi, một người… là Hoàng hậu hại nước hại dân.”
***
Bình Cảnh có tổng cộng ba quận, Đông Quận, Trừng Giang và Kim Ô. Đông Quận là đất canh gác quân đội ở biên giới;, tên Trừng Giang là vì lấy tên của con sông nước ngọt trong nhất Đại Chiêu; còn Kim Ô, vì theo sổ ghi chép của Khâm thiên giám, mặt trời ở đây là to nhất, ngắm cảnh đẹp nhất nên mấy đặt là ‘Kim Ô’ (*).
(*) Trừng là trong, Giang là sông.
(*) Kim Ô là con chim vàng, còn có nghĩa là mặt trời, thái dương.
Kim Ô và Trừng thủy giáp nhau, chèo thuyền ngắm cảnh là hoạt động mà đám văn nhân thi sĩ yêu thích nhất, thế nên Kim Ô luôn tấp nập đông vui. Đám ba hoa, học trò đi dạo quán trà, thư sinh vào kỹ viện, tiếng rao thô thiển ồn ào khắp phố là của các tiệm bán hàng, ngồi trong xe ngựa đi dưới hàng liễu là công tử khuê tú nhà quyền quý, đám nha lại mặc đồ màu đen hô tới quát lui, nhìn qua một vòng là có thể phân biệt được ngay. Có điều một hai năm gần đây xuất hiện một đám người chẳng biết từ đâu, đều mặt áo đen buộc tóc, tay nâng con thuyền, xôn xao khắp phố, trông giống dân buôn, nói những câu như, “Ta tuân đại đạo, hành xử cẩn thận. Rủi có sai sót, vậy cứ tùy tâm. Không phân giàu nghèo, chẳng cầu danh lợi. Như mộng vô căn, luôn có thay đổi.” Có người tò mò đi tới, những người kia nâng con tàu nhỏ xíu tinh xảo trên tay, chiếu ra ánh vàng chói mắt, mười sáu khung cửa sổ bằng vàng nhỏ xíu mà cực kì chi tiết trông rực rỡ đến lạ kì.
Nghe kể có nhà giàu tự thấy cuộc sống chán quá không có gì thú vị, bán mộng để bước qua cửa sổ, nói rằng muốn đổi một cuộc đời vui vẻ, ba ngày sau trở về, mất sạch ý chí, chưa tới một tháng đã bán sạch gia tài bạc vạn, bỏ nhà ra đi, chẳng biết về đâu.
Hoặc thư sinh nhà nghèo nọ, từ nhỏ được thầy tướng bói rằng có tướng đại quý, nhưng số mệnh trắc trở, thi tú tài mười lăm lần mà vẫn không đậu, xưa nay luôn miệng hay nói cưới vợ phải cưới Trịnh Quang Hoa, chức quan như Thương như Lý. Thương Ương, Lý Tư đều là thừa tướng tiếng tăm lừng lẫy của tiền triều, Trịnh Quang hoa là đường muội của đương kim Quý phi Trịnh thị, tuổi còn nhỏ nhưng tiếng thơm lan xa. Nghe bảo có thể bán mộng, thư sinh bèn mang bán, bước vào khung cửa thứ tám để đổi cuộc đời không lo cơm áo. Đến khi hắn đi ra, chỉ sau nửa năm thì đúng là vô tình lại nhận được ngàn mẫu ruộng tốt, nhà lầu áo gấm, không còn lo cơm áo gì nữa, có điều vẫn thi mãi chẳng đậu tú tài. Vào năm đường huynh Trịnh Kỳ được phong hầu, quyền lực của Trịnh thị lên tới đỉnh cao thì Trịnh Quang Hoa được gả cho Nhị hoàng tử. Thư sinh muốn đoán mệnh, cố chấp cho rằng cái ngày mình bước qua cái cửa sổ bằng vàng kia là một bước chí lí, đi tìm thấy tướng để coi bói. Thầy bói thở dài rất lâu, không nói gì chỉ lắc đầu một cái.
Sau khi nhà giàu ra đi, thư sinh phát tài, con thuyền vàng nho nhỏ trong tay hắc y nhân càng có vẻ thần bí. Những người giàu có thì băn khoăn do dự không dám vào nhưng không tránh khỏi cám dỗ, đám nghèo khó lại đổ xô tìm tới. Chẳng bao lâu, hai bên Kim Ô và Trừng Giang chẳng còn gì lạ với những cảnh giàu có sau một đêm, bán vợ sau một đêm. Có tên trộm làm chuyện tốt đi trộm thuyền, đêm tối trăng không sáng rõ, con thuyền vàng kia tự bốc cháy, nửa ngày sau chỉ còn một đống tro tàn.
Bình vương nghe tin đồn đó, nói với Vương phi mấy câu về tà thuật, cũng không làm gì tiếp. Trước nay ông ta vốn là một vua lười, lại thêm bị nản lòng vì chuyện bói toán hơn nửa mọi sự trên đất phong đều giao cho Thế tử Thành Cửu, bản thân đi ngao du sơn thủy, ung dung tự tại, mặc kệ ai giàu hay nghèo. Nhà giàu đóng thuế, kẻ nghèo tiếp tế, ngân thuế không thiếu, kho lương không nhiều, tất thảy đều mặc.
Bình vương Thế tử cũng lười nên càng không để ý. Chẳng qua mấy công tử quần là áo lụa hay đánh bạc đi nhà nghỉ với hắn cứ nửa năm là thay đổi mấy tay, đúng là khiến người ta phải nổi giận.
“Báo! Báo… Thế tử, Tư Đồ công tử không tới được. Tư Đồ lão gia đổi mộng, không hiểu sao mang bán hết tất cả cửa hàng cho người ngoài, mang công tử đi rồi.” Tiểu thái giám xoa xoa cái đầu ướp nhẹp mồ hôi.
Thành Cửu mỉm cười phe phẩy quạt giấy, chén rượu bị bóp nát trong nháy mắt. Nhìn xung quanh thấy vắng vẻ không bóng người.
***
Biên tướng Đông Quận là Chương tướng quân có một cô con gái, khuê danh Hàm Chi, mười lăm cái xuân, xưa nay nổi tiếng xinh đẹp như tiên nữ, ai gặp cũng ngây ngẩn cả người, run rẩy khăn tay, làm rớt quạt giấy đều chỉ là phản ứng bình thường. Con gái của Thái thú Kim Ô, lúc cô mọt sách Hằng Xuân bảy tám tuổi có từng gặp Chương Hàm Chi, sau đó cứ lẩm bẩm: “Lầu son giấu nàng, cỏ thơm điểm tô nàng, môi đỏ chẳng cần dặm, có ai nào sẽ nhớ? Phượng hót nhà phú thương, cặp chim loan bay lượn, kinh sợ múa la đà, đông rét như ấm hơn. Cứ mãi hoài nhung nhớ, lòng son bỗng chết lặng, ngày nọ mới hay rằng, đấy là… Chương Hàm Chi”. Ngơ ngơ ngác ngác tự về nhà một mình, mơ mơ màng màng lẩm bẩm trong miệng tới mức phát sốt, mãi vẫn không khá lên, có cụ già mới bảo có khi vì do bị ‘mất hồn’, quả nhiên, sau khi ‘bắt hồn’ lại mới khá hơn. Từ đó, mỹ danh Chương Hàm Chi càng lan rộng.
Chương Hàm Chi cứ thế tới tuổi cập kê, bậc cửa phủ Tướng quân cũng phải đổi mười mấy cái rồi, Bình vương cũng ngỏ ý muốn kết duyên hai họ, thế nhưng Tướng quân vẫn nhất định im lặng không đồng ý. Có công tử thế gia nọ mãi không chiếm được mỹ nhân, thầm ôm hận nói: “Lẽ nào mỹ nhân nào có dã tâm đến vậy, muốn trở thành Hoàng hậu hay sao?”
Chương Hàm Chi nghe thế, đáp rằng: “Có gì mà không thể? Tài mạo như vậy, chính bản thân ta còn không nỡ chà đạp, sao có thể để hạng dung tục vô năng các ngươi được hưởng? Hàm Chi không chỉ có thể làm Hoàng hậu, mà còn phải là Nguyên hậu (*). Nếu cuộc đời này không làm Nguyên hậu, ắt đi trấn thủ biên quan, vì dân báo quốc.”
(*) Nguyên hậu: Ý chỉ là vợ cả, vợ đầu/ vợ nguyên phối của vua chứ không phải là từ phi tần trở thành Hoàng hậu.
Những lời này không thể nói là không ngông cuồng. Bình vương nghe vậy, nhớ tới lời thầy tướng từng nói trước đây, lại nghĩ tới nhân phẩm Thái tử, có mấy phần cảm thấy như là duyên trời đã định nên thôi. Chỉ có điều mỹ mạo, tài danh, khí phách của Chương Hàm Chi vừa truyền tới tai Bệ hạ thì Thái tử lại hoăng mất tiêu. Kể từ đó, Chương Hàm Chi lại càng không gả được.
Thế nhưng nàng không lo lắng, Chương tướng quân cũng chẳng hề sốt ruột, hai cha con đồng lòng canh giữ Đông quận, mong chờ tới ngày được liều mạng với Đông Dật, một quốc gia dùng văn lập quốc, không giỏi võ nghệ nhưng hai cha con cũng chả thèm quan tâm, thề chết mà báo quốc.
Thế nên, cuối cùng câu nói kia của Chương Hàm Nghi thật ra lại có ý rằng: Ta muốn làm nữ tướng quân đầu tiên của Đại Chiêu.
Có điều, Đông Dật chưa kịp tới thì Chương Hàm Chi lại gặp điều bâng khuâng trước.
Nàng nằm mơ, cảnh trong mơ rất chân thật.
Trong giấc mơ, nàng gặp một thư sinh sắp chết đói ở trên đường, cho thư sinh đó một miếng bánh, chớp mắt thư sinh đó lại trở thành Hữu tướng quyền lực khuynh triều. Còn Thái tử vốn đã qua đời của đương triều ấy mà lại chưa chết, tới nhà nàng cầu thân, nàng vừa nhìn thấy y, hồn phi phách tán, trong lồng ngực có hàng triệu chim bồ câu bay túa ra, chớp mắt lại đứng ngay giữa điện, Thái tử nhẫn nhục ngày xưa nay trở thành Thiên tử.
Hoàng đế bệ hạ bên ngoài luôn tỏ ra dịu dàng ngọt ngào với nàng, mười năm chuyên sủng, thế nhưng bên trong lại lãnh đạm vô tình, chỉ muốn cái Âm binh lệnh phù trong tay phụ thân nàng mà thôi. Lại đúng lúc Đông Dật xuất binh tới Đại Chiêu, phụ thân được bổ nhiệm làm Nguyên soái, liều chết chống lại Đông Dật, Hữu tướng đại nhân lại buộc phụ thân tội thông đồng với địch, có ý đồ tạo phản. Hoàng đế bệ hạ không chút lưu tình, hạ lệnh chém cả nhà. Máu phụ thân ướt đẫm cờ trắng, nàng thấy tận mắt, khóc thét thành tiếng, rồi bỗng chết ngất. Sau khi tỉnh lại, đã ở lãnh cung, hàn khí bức người.
Lại mười năm trôi qua, có một tiểu thái giám nàng chưa từng gặp trình cái lệnh bài chẳng biết từ đâu ra, để nàng cải trang thành cung nữ, rời khỏi hoàng cung. Vừa tới cửa thành, nghe thấy tiếng chuông tang, thì ra Hữu tướng đại nhân đã mắc bệnh qua đời.
Tiểu thái giám nói: “Năm đó Hữu tướng đại nhân chỉ có thể bảo vệ một mình ngài. Nay, cũng chỉ có thể bảo vệ một mình ngài.”
Nàng nói ấy là vì chàng ta muốn tạ ơn bữa cơm khi đó, tiểu thái giám lại thưa, năm đó, ngoại trừ Thái tử, Hữu tướng cũng tới cầu hôn.
Chẳng mấy chốc, Hoàng đế bệ hạ đuổi tới, nhìn từ trên cao, cầm chuôi kiếm gác trên cổ nàng. Y hỏi lệnh phù ở đâu, Chương Hàm Chi ch** n**c mắt, lòng cảm thấy thật chua xót, “Rốt cuộc ngài có từng thích ta hay không?”
Nếu như y từng thích nàng, vì muốn giang sơn vững chắc, vì chiến công xuất sắc của phụ thân – thứ mà thi thoảng nàng cũng thấy bức người; Nhưng nếu như y khẩu phật tâm xà, lòng dạ độc ác thì dựa vào cái gì mà bắt phụ thân và sáu mươi ba mạng người bị liên lụy của phủ phải chịu cái vận mệnh này?
“Chưa từng. Một phút một giây một khắc nào cũng chưa từng.” Hoàng đế bệ hạ nhìn nàng, lạnh lùng nói, “Nếu đã không chịu nói, vậy thì cứ biến bí mật này thành không.”
Như uyên ương liền cành, kết tóc làm vợ chồng.
Nàng muốn nói, ta đã đưa Lệnh phù cho chàng rồi, thế nhưng, mũi kiếm kia đã từ từ xuyên qua trái tim nàng, tất cả đều trở nên lặng thinh. Nàng nằm trong bóng tối, đau đớn thấu xương, lại cuộn mình quắt queo, thấy một cô gái mặc áo vàng đi tới, không nhìn rõ bộ dạng, lên tiếng châm chọc nàng, “Thế nào, xem rõ chưa? Chương Hàm Chi, cô hãy nhớ kĩ, chàng không thích cô, chưa một phút một giây một khắc nào từng thích cô. Hàm Chi, ta mang những thứ có thể mượn cho cô mượn, cô đã thấy rõ hay chưa?”
Chương Hàm Chi đau đớn kêu lên, bỗng mở to mắt, mặt nhòa lệ. Nàng ngơ ngác nhìn khuê phòng xung quanh, nhưng lại không biết mình đang ở đâu, chỉ là đang đau đến mức không thể khóc nổi, siết chặt tay, nhìn thấy gân xanh trên bàn tay nổi lên, xoay người thấy con két trên giá vàng đang lúc lắc đầu đọc thơ của Hằng Xuân: ‘Ngày nọ mới hay rằng, đấy là… Chương Hàm Chi.’
Đại nha hoàn chạy tới, giọng lanh lảnh trong trẻo, dịu dàng thưa: “Nương tử, có thiếu niên áo trắng tới cầu thân, xưng mình là Cô.”
Lại có tiểu nha đầu tinh nghịch cười đùa nói nhỏ: “Ngoài cửa có một thư sinh bị trúng nắng, ngã trước cửa nhà chúng ta.”
***
Thời gian: Giờ sửu một khắc, ngày sáu tháng sáu, năm Tề Minh thứ mười một.
Địa điểm: Trên một con thuyền hỏng đang neo ở sông Tương đầu nguồn Xích Thủy.
Nhân vật: Bốn thư sinh đang say ngủ, một ngư dân, ngoài ra còn có một con búp bê xấu xí.
Sự kiện: Dưới lòng sông đen ngòm không thấy nổi năm ngón tay, có thứ gì đó đang lặng lẽ không một tiếng động trèo lên. Nò bò, tròng mắt rớt ra, bò bò, nửa cánh tay cũng rớt. Nó bò bò, lại bò bò, cuối cùng cũng bò tới mũi thuyền, run rẩy bò dậy, không cẩn thận bị vấp phải cái bậc gỗ, lảo đảo, cánh tay bị rụng thêm nửa. Mùi hôi thối lập tức tràn ngập cả bến tàu, đám thư sinh đang dựa vào gùi sách ngủ rất say, ngáy o o, ngủ mê không biết gì, có người hình như đang mơ gì đẹp lắm, cười tới mức cả mặt toàn nếp nhăn. Thứ kia mò mẫm lượm lại được con mắt và cánh tay, bình tĩnh lại, sau đó cố gắng hít một hơi, hình như ngửi thấy một mùi dễ chịu lắm, từ từ xoay cái đầu cứng ngắc lại, dưới ánh trăng, hiện rõ khuôn mặt đã thối rữa một nửa. Đây là một con quỷ nước, nó dám ngang nhiên trèo lên bờ bắt người. Nó cong người, đi tới trước ngực một thư sinh mặt mũi bình thường, sung sướng hít một hơi, sau đó lặng yên há to cái miệng thanh hôi đen ngòm, chạy nước miếng xuống cái áo vải. Thiếu niên kia nghiêng người, vẫn chưa phát hiện ra, trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc đó, nói thì chậm nhưng xảy ra rất nhanh, cái gùi sách mà chàng ta đang dựa vào sau lưng hình như thay đổi, có một vật gì nho nhỏ nhảy ra, hai tay chống nạnh, bộ dạng hung hăng, lộn trước lộn sau, đá liên hoàn như cá chép nhảy lên mặt nước.
Con quỷ nước sửng sốt. Còn vật nhỏ kia nháy mắt đã cào được một miếng thịt nát trên mặt con quỷ, đánh một cái là tèo nhào, con quỷ nước không ngờ nó mạnh vậy, đảo người té cái tõm xuống nước.
Tiếng động lớn đó khiến đám thư sinh suýt nữa cũng trở thành quỷ nước cuối cùng cũng hơi tỉnh lại. Cậu lái thuyền vội vàng chạy vào, đánh thức từng người nói: “Nguy rồi, các công tử mau dậy đi, Thủy Si tới bắt người thế thân đó.”
“Cái gì? Là ý gì đây?” Giữa bến tàu, một thiếu niên mặc hoa phục nhảy dựng lên, điên cuồng hét lớn: “Nhà đò, bà mẹ ngươi! Không phải ngươi nói con sông này bình yên nhất hay sao?!”
Thiếu niên ở bên cạnh mặc bộ đồ vải đầy mảnh vá ở bên cạnh lau nước miếng, từ tốn nói: “Sao biết là Thủy Si? Thủy Si là tên ai đặt thế, hay là tục xưng của quỷ nước? Ta chỉ nghe một tiếng tõm, nếu đặt thì phải gọi là ‘Tõm’ mới đúng chứ. À còn nữa, ngươi hoảng hốt chạy tới, chưa có gì rõ ràng đã gọi đó là quỷ nước, không lẽ con quỷ nước này là do nhà thuyền nuôi? Chứ không tại sao nó vừa tới mà ngươi đã biết rồi?”
Nhà đò muốn khóc tới nơi. Hắn lảo đảo đụng vào người thư sinh mặc áo đen đang dựa vào ở mũi thuyền, thế nhưng thư sinh kia vẫn mãi không tỉnh. Hắn run rẩy đưa tay ra, thấy người này đã hoàn toàn không còn hơi thở. Ba hồn bảy vía của nhà thuyền bay hết, gào khóc: “Nguy rồi, tiểu công tử này bị Thủy Si bắt hồn thật rồi, bây giờ trên thuyền có người chết thì sau này biết sống làm sao?”
Phù Tô đang dựa vào gùi sách dưới đuôi thuyền mơ màng đưa tay mò tìm gì đó trong cái gùi sau lưng, bỗng bật dậy, đầu óc trống rỗng, cố gắng kiềm chế niềm vui xuống, mặt không biểu cảm trừng mắt nhìn lái thuyền: “Không thể được, vợ ta đâu? Ai bắt người của ta? Nhà thuyền ngươi bắt trộm người!”
Lái thuyền khóc lóc.
Ở mũi thuyền, trên mặt nước dưới chân thư sinh mặc đồ đen không có hơi thở ban nãy từ từ nổi lên một con rối búi tóc lùi xùi mặc áo tang.
Thư sinh mặc đồ đen tưởng đã chết trong giấc ngủ đang nhắm mắt, bỗng vươn cánh tay tái nhợt gầy trơ xương ra, nhúng vào trong nước.
Hồi sau, thư sinh mặc đồ đen mở mắt, trên khuôn mặt âm u như mang bệnh đã lâu có vẻ trào phúng mơ hồ, ngón trỏ và ngón giữa bốc được một búp bê ướt nhẹp xấu xí, yếu ớt hỏi: “Đàn bà xấu của nhà nào bị vứt bỏ ở đây? Chớ làm ô uế cả ao nước.”
Kết quả sự kiện: Tự dưng Phù Tô kiếm được ba người huynh đệ kết nghĩa, một người họ Chương, một người họ Hoàng và một người họ Doanh.
Họ Chương là một cô nương giả trang, vẻ ngoài cực kì xinh đẹp mà lại giống như Thành Vân, thô lỗ nóng nảy, có thể dùng một tay đẩy ngã được một gã đàn ông cường tráng. Ai cũng nhận ra nàng ta là nữ nhưng lại ngoan ngoãn giữ miệng.
Họ Hoàng là một thiếu niên mồm la bai bải không biết dừng, đầu óc khôn lanh, hơi có chứng vọng tưởng mình là kẻ bị hại. Hắn nghĩ tới bất kì sự kiện nào cũng sẽ có thể đưa ra được hai kết luận: Một là trừ hắn thì những kẻ khác đều là người xấu, Hai là mục đích chính của những người còn sống là hãm hại hắn. Dù hễ tí là hay đỏ mặt nhưng hãy tin rằng đây bẩm sinh, chẳng liên quan gì với chuyện da mặt dày hay mỏng.
Còn họ Doanh mặc cả người màu đen, đến cái mũ nho cũng đen, cõng cái lò thuốc sau lưng, cả ngày u ám bệnh tật dựa vào mũi thuyền, cứ như một khắc nữa là ốm chết tới nơi, chưa từng vui vẻ hòa nhã với bất cứ ai, cứ tưởng là cũng ngang ngửa với Phù Tô luôn không biểu lộ cảm xúc chứ thật lại khác nhau rất xa. Phù Tô không hề khó khăn, tên này lại cực kì khó.
Tổng kết lại, Chương tiểu công tử là kiểu thấy người khác không bằng mình, Hoàng tiểu công tử là loại thấy người khác đang thiếu nợ mình, Doanh tiểu công tử mong người khác không tới gần mình, còn Phù Tô, Phù Tô lại là kiểu mong người khác chớ… phát hiện ra mình.
Vào mùng sáu tháng sáu năm Tề Minh thứ mười một, công tử Phù Tô cảm thấy từ khi biết tới yêu quái xấu xí Hề Sơn quân rồi cùng sống trong những ngày ngèo đói, đây là ngày khác biệt nhất.
Chương công tử xinh đẹp khác thường cực kì thích vỗ vào vai người khác, cứ như đây là cách chào hỏi người khác. Hơn nửa đêm từ sau khi gặp quỷ nước, trong ánh nến chập chờn, thiếu niên kì quái này cứ đi vỗ từ mũi thuyền tới đuôi thuyền, vỗ từ vai trái qua vai phải. Lúc vỗ lên Hoàng công tử, ban đầu không dám tin, sau đó cực kì mừng rỡ, khi vỗ lên Doanh Yến, không biết sao lại có phần kính nể, tới khi vỗ lên Phù Tô, ban đầu không để ý lắm, ai ngờ vỗ vai trái xong thì mặt của Chương tiểu gia còn trắng hơn tờ giấy, vỗ vai phải phát nữa thì lảo đảo cả người, cố gắng lắm vững chân, ráng gượng cười nói: “Đệ nghe nói các vị công tử đều đang muốn tới núi Xương Hoằng xin học, nếu đã có duyên gặp nhau tại đây, chi bằng lấy trời đất làm chứng, kết nghĩa làm huynh đệ đi.”
Tới, tới rồi, cuối cùng cũng tới rồi.
Ba vị công tử còn lại đều thầm thở một hơi dài. Bọn họ có thể thầm xác định công tử xinh đẹp trước mặt là một nữ nhân, ngoài ra còn có thể thầm nhận định rằng có khả năng mình đang bị lừa.
Chớ trách tại sao các thiếu niên lại nghĩ như vậy. Sáu mươi năm vừa qua, chẳng biết tập tục do vị cô nương nào tạo ra khiến việc nữ cải nam trang đi học cực kì thịnh hành, trường học cha mẹ đưa tới đều thuộc hàng nhất đẳng, mong cho bản thân các cô nương không chịu thua kém, tìm được thằng rể quý, dời hộ tịch tới Đại quốc.
Vì sao lại thế? Vì có quá nhiều nước chư hầu. Gì cơ? Nhiều nước chư hầu thì làm sao? Thì dù Chiêu thiên tử không thích nhưng chư hầu các nước đều lén hạ lệnh, ngoại trừ trí thức – không cho phép thông hôn giữa nước này với nước khác. Nói cách khác, vì chế độ hộ tịch nghiêm khắc, khi mà địa bàn của các nước đều quá nhỏ, giống như việc một con chuột phải tự lập hôn phối, thì dù là con cái có thừa, một đực nhiều cái thì cũng nhất định không để con chuột nhà khác được hưởng.
Thế nên, dựa vào đâu chứ, vất vả lắm mới sinh ra được một cô nương như hoa như ngọc, chẳng lẽ không xứng đôi cùng với đám nam nhi anh tuấn giàu có của nước khác mà phải đi cưới một tên th* t*c ăn không ngồi rồi nhà hàng xóm à? Vậy là nhà nào sinh con gái, nếu cha mẹ có chút tiền của đều sẽ đẩy cô nương đó tới thư viên Đại quốc. Chẳng vì lí do gì ngoài để chọn một cậu con rể tri thức của Đại quốc, sau này đậu cao thì khéo sẽ dẫn dắt được gia tộc thoát khỏi tiện tịch. Nếu quốc quân bất nhân gây chuyện mùng một thì đừng trách thứ dân kiếm chuyện ngày mười lăm.
Đại Chiêu lập nước đã hơn ba trăm năm, nay dân phong hung hãn dữ lắm rồi. Các quốc gia đóng cửa với nhau, ở biên giới ngoại trừ có dân buôn bán qua lại, sứ giả đến hỏi thăm, số ít người dân trao đổi tin tức thì các cô nương đều không ngại gì chuyện thanh danh. Cho dù gây chuyện tới mức khó coi ở ngoài thì vẫn có thể trở về nhà đóng cửa, vẫn sống rất là thoải mái.
Quy củ, là để cho đám con gái quý tộc giữ lấy. Chứ con gái thứ dân mà muốn sửa mệnh thì ngoại trừ nằm mơ, chỉ còn con đường tắt duy nhất là lập gia đình.
Những ngày gần đây, những gia đình quý tộc có thiếu niên lang chuẩn bị xuất sĩ mà nghe tới thư viện là đều tái mặt, có mấy nhà bảo thủ, thà để con mình tự học trong nhà chứ không chịu cho họ ra ngoài rồi bị mấy đứa học trò thứ dân làm thay đổi tính nết. Thủ đoạn giả nam của các cô nương ngày càng ghê gớm, có mấy thư viện kiểm tra rất nghiêm nhưng cũng không tránh khỏi để lọt được vài người.
Mà các thanh niên có thể đoán được nhi lang xinh đẹp trước mặt là nữ vì nghe nói mấy cô nương cải nam trang có đam mê thích kết nghĩa huynh đệ với người khác.
Mà bọn họ chỉ ngồi chung một cái thuyền, tránh trận mưa thì đã bị nàng ta nhắm tới, không hề có duyên, chớ nên kết bái.
Phù Tô vẫn chưa lên tiếng, ngồi bất động thanh sắc chờ đợi, thế nhưng ba người kia đều đang thăm dò lẫn nhau, quăng cho chàng mỗi cái gáy, không thèm để tâm tới. Phù Tô quay đầu nhìn thấy một khuôn mặt chất phác cực kì tầm thường dưới làn nước xao động, nháy mắt cảm thấy mình đang tự mình đa tình.
Phù Tô sử dụng tấm da người mà Phụng nương đưa cho, đổi mặt và tên, nay gọi là Cơ Cốc. Khuôn mặt này trông không đẹp cũng không thông minh, có phần thô kệch, đối với những cô nương mắt cao hơn đầu thì sẽ không vừa ý. Cô nương này nói muốn kết nghĩa với chàng thì chắc tại sẵn tiện để tình cảnh có vẻ tự nhiên hơn.
Hồi cuối năm tự nhiên vợ chàng từ bi, ném cho chàng bọc đồ, bảo là để hưởng ứng mục đích nuôi con rể ở trên trời dưới đất, căn cứ vào nguyên tắc Không hối để chàng đi kiếm phong hầu (*), để chàng đi cầu học ở chỗ Bình quốc Tôn đại gia. Phù Tô thấy nàng muốn làm Hoàng hậu tới điên rồi, thế nhưng nghe nói tàng thư trong nhà Tôn đại gia có thể sánh ngang với Đại quốc, chàng thông minh ngậm miệng lại. Trước khi lên đường, ả yêu quái này thêu cho chàng một con búp bê giống mình như đức, xấu đến mức khiến người phẫn nộ, còn ân cần nói khi nào nhớ nhà thì ngắm con búp bê, nàng là con búp bê, con búp bê chính là nàng. Nói cách khác, nếu con bụp bê mà bị chàng làm gì, Hề Sơn quân nhất định sẽ đối xử với chàng gấp mười lần như thế.
(*) Chế từ câu Hối để chàng đi kiếm phong hầu, trích từ bài Khuê oán của Vương Xương Linh. Bài thơ thơ này cũng được cho vào SGK Ngữ Văn lớp 10.
Phù Tô muốn ném cái thứ vũ khí giữ nhà này đi lắm. Chả có công tử nhà nào lại thích cái thứ này hết.
Mặt Phù Tô vẫn không thay đổi, nhưng đang nghĩ vẩn vơ ở đâu đâu. Đến khi lấy lại tinh thần thì ba người kia đã đi tới quyết định kết nghĩa với nhau. Không ai hỏi ý kiến của chàng, mà Phù Tô cũng không có ý kiến gì, trong ba người không ai hiền lành dễ chọc, nói muốn kết nghĩa với nhau cũng vì người nào người đó có mục đích riêng thôi. Chàng lười làm mích lòng bọn họ, chỉ quyết định sau này sẽ từ từ tránh bớt.
Lúc lên bờ nghỉ ngơi, ở ngoài cái miếu nát, mỗi người bẻ một cành liễu, đã hơn nửa đêm, trăng không sáng lắm, bốn giọt máu đỏ tươi cùng hòa lẫn nhau trong chén rượu mẻ.
“Lấy trời để ước, thái dương chứng thề, trái tim kết nghĩa, sao xa chứng giám, bốn người chúng ta hôm nay cùng kết làm huynh đệ, máu đã hòa lẫn, trái tim thành một, kính trọng yêu thương, mãi không hại nhau.” Thiếu niên họ Chương rống to vang trời, nuốt cái ực li rượu máu, mắt nhìn chằm chằm Phù Tô.
Thư sinh họ Hoàng đỏ mắt, mỉm cười nói: “Đệ mười bảy, các vị ai làm trưởng huynh?”
Chương thiếu niên tỏ ra rất chào đón Hoàng thư sinh, mặt mày rúng động, càng lộ vẻ mỹ miều: “Huynh mười tám.”
Doanh Yến yếu ớt ho khan: “Mười chín.”
Mặt Phù Tô vẫn không thay đổi, dõng dạc: “Ta làm huynh trưởng, nay đã cập quan.”
Một năm vừa qua công tử Phù Tô đã tính toán đâu ra đấy, vừa qua ngày sinh nhật thứ mười bảy. Trên đời này, có một vài người xấu xa một cách xuất sắc, chẳng hạn như Thành Giác, cũng có vài người xấu xa không được xuất chúng lắm, xấu vì tự làm vui bản thân thôi, chẳng hạn như Phù Tô.
Bốn người bàn nhau về thứ tự anh em, chào hỏi lẫn nhau. Từ huynh trưởng tới tứ đệ lần lượt là Cơ Cốc, Doanh Yến, Chương cam, Hoàng Vận. Bọn họ đều chưa làm quán lễ, không có tên tự nên lấy thứ tự huynh đệ để gọi nhau.
Phù Tô rũ mắt, nghe Hoàng tứ lang trầm giọng nhẹ nhàng nói: “Xưa nay đệ không tin lời nói suông, nếu chư huynh trưởng đã uống chén rượu máu mà sau này làm trái lời thề hôm nay, giết hại lẫn nhau sẽ chịu hình phạt ngũ mã phanh thây, đầu lâu phơi nắng, thế nào?”
Đây là hình phạt của Ngũ Tử Tư.
Phù Tô thấy không đúng lắm. Hời ơi, bỗng dưng cùng ba người bọn họ thề nguyền, ai hại ai, ai làm Ngũ đại soái. Người này mặt mũi nhìn thùy mị, ngại ngùng vậy mà lại há miệng khiến người khác mắc quai.
Mặt mày Doanh Yến mang bệnh lâu năm, tái nhợt hơi trầm mặc, nhưng hồi sau cũng gật đầu đồng ý.
Chương Cam khạc đờm, nhiệt huyết nhìn chằm chằm Phù Tô nói: “Đúng, tiểu nhân làm thế sẽ bị thiên lôi đánh trúng, chết không toàn thây!”
Phù Tô thản nhiên nở nụ cười, nhấp li rượu máu, phủi tay áo lam bám bụi, chắp tay nói: “Đã kết nghĩa, vốn muốn cùng chư đệ no say trên thuyền một phen, nhưng trong túi ta ngoại trừ chút lễ vật ra mắt thầy giáo cũng không còn chút tiền dư, đành phải đi bộ tới chỗ Tôn đại gia. Đã vậy thì huynh xin đi trước một bước.”
Diện mạo chàng tầm thường, ăn mặt cũng chả có mang tí cảm giác mây khói, ẩn sĩ phong lưu gì. Chàng đeo cái gùi sách, định ngênh ngang rời đi. Chẳng ngờ con búp bê vải trong gùi sách lại bị kẹt trong bát lư hương ở cửa miếu, không cách nào rút ra được.
Vì thế mà một chút dáng vẻ tiêu sái tự nhiên cuối cùng cũng bị phá nát không còn gì.
Thiếu niên bất đắc dĩ nhìn vẻ mặt cười đến vô sỉ của con búp bê đang cắm người vào trong lư hương, cảm thấy yêu pháp của yêu nữ này có ở mọi nơi, khiến cho một người như chàng, vốn có thể làm một công tử lãng đãng phiêu diêu ở đây, nay nhìn vẻ khoái chí của ba người kia, không khỏi có mấy phần tức giận.
Chàng nghĩ đây thật sự là yêu nữ đáng ghét nhất trên đời, hai má hơi ửng hồng, nút buộc trên cổ búp bê vải lại xoắn chặt vào lư hương, càng lúc càng chặt.
Hoàng Tứ lang nhìn con búp bê kia, mỉm cười nói: “Hình như có nghe loáng thoáng huynh trưởng có thê thất rồi, thế con búp bê này cùng với người chị dâu ta chưa được gặp mặt có liên hệ gì không?”
Chương Cam hồ nghi nhìn tay trái của mình. Lúc nàng ta đụng vào không đụng ra được chuyện này? Nàng ta… lại không phải nguyên thê của chàng sao?
Phù Tô trầm mặc, tiếp tục gỡ con búp bê xuống, cầm trong lòng bán tay, dùng ngón tay nhéo cái mặt bánh bao của con búp bê khiến nó càng xấu hơn, giọng nói trong trẻo nhưng lạnh lùng, “Ta có một người vợ, xinh đẹp như hoa, dịu dàng như thiếu nữ, là cô nương tốt nhất trên đời, chưa bao giờ trèo mái nhà lật ngói, tỏa sáng tranh với trời trăng.”
***
Tôn đại gia tên là Hồ, tự Trạch Đường, hậu nhân của Tôn Vũ, người Lạc An. Từ thời Chiêu Vân đế thì cả tộc đã dời tới núi Xương Hoàng, Kim Ô, Bình quốc để ẩn cư hơn nửa người, sống bằng nghề mở thư viện (*các gọi của trường học ngày xưa) nhiều đời nay.
Mấy đời phu tử trước đây tư chất bình thường, dạy ra học trò cũng bình thường. Ngày nay có Tôn phu tử nhìn thì bình thường, lựa chọn những học trò đều là con nhà nghèo cả, nhưng kết quả tổ hợp không hề bình thường vậy mà lại nghịch thiên. Theo như ghi chép xuất thân của tam giáp bảng văn võ trong hai mươi năm vừa qua của Thượng thư các, trong các nhân viên Tiên đế có tới hơn ba mươi người từ Xương Hoằng Bình quốc. Mặc dù Bình quốc là nơi đầy dủ sung túc nhưng cũng chỉ là một quốc gia nhỏ, giáo dục không thịnh. Một nước mà có mười người đậu thì cũng may mắn lắm rồi, hướng chi một quận, một núi thôi mà đậu hơn ba mươi người. Bách quốc kinh hãi, thi nhau rối rít hỏi thăm Tôn Hồ là người phương nào. Thế nhưng ngoại trừ biết đây là hậu nhân Tôn Vũ thì chẳng có chỗ nào hơn người. Mọi người đều tưởng chỉ là ngẫu nhiên, thế nhưng chỉ ba năm sau, ông ta lại đưa ra được thêm ba mươi tiến sĩ văn võ, mười lăm văn, mười lăm võ, không nhiều không ít. Học trò Tôn Hồ xuất thân hàn vi, khiến Tiên đế có thể an tâm sử dụng. Ngoài ra học trò của ông ta có một điểm đặc sắc nữa, đó là văn võ song toàn. Cho dù mỗi người không ai đạt được cấp độ đầu ngành, tức là không làm tới Tể tướng hay Tướng quân, vào hàng ngũ Tam công (*ba chức quan cao cấp nhất trong triều đình phong kiến); nhưng mà văn nhân lại hiểu cách hành quân tung hoành, dân võ cũng có con mắt trị quốc tinh tế, Chân Tông (*Tiên đế, tổ phụ của Phù Tô) rất tán thưởng.
Nay là triều Triết Tông, Tôn Hồ trở thành bảng hiệu sống trong giới giáo dục, lũ học trò nháo nhào muốn được chiêm ngưỡng Khổng phu tử đương thời. Ai mà đẹp đẽ gia thế tốt sẽ tức sôi cả ruột, cmn, không nhận vẫn là không nhận! Chẳng lẽ nghèo túng, đói khổ mới mang lại cảm giác đặc biệt hay sao? Khẩu vị nặng dữ!
Phù Tô và ba người Doanh, Chương, Hoàng tới cùng lúc. Ba người kia kiên trì đi bộ chung với người huynh trưởng mới kết bái, trên đường đi cũng thăm dò lai lịch của nhau.
Phù Tô tự xưng là con cháu năm đời của quý tộc Cơ thị đã xuống dốc của nước Tấn thời chiến quốc, trong tay có đầy đủ danh thiếp và thư đề cử các thứ; Doanh Yến là cô nhi, Doanh thị tiền triều nổi loạn, Vân tướng xử trảm cửu tộc, chỉ sót lại mỗi đứa nhỏ này. Lúc hành hình Vân lang từng nói, ba đời Doanh tộc không trốn thoát đâu, ba đời sau, nếu không chết thì người người cũng truy giết. Còn Doanh Yến chính là dòng con cháu, tới đời y cũng là đời thứ ba. Ý định ban đầu y đến Bình quốc cũng mập mờ, hình như ban đầu không phải muốn tới thư viện để đọc sách mà là đi tìm người, không biết vì sao lại thay đổi; Về phần Chương Cam, chỉ nói là hậu nhân thế gia, nhưng không nói rõ mình là nhà nào. Thế gia họ Chương nói nhiều không nhiều, nói ít không ít, trong đó có ba nhà nổi danh nhất, một là Phượng Dương Chương thị, hai là Thôi Thành Chương thị, ba là đệ tử của Tần soái, Phủ Đông tướng quân Chương thị. Mọi người đoán nếu từ hướng nàng tới thì có thể xuất thân từ một trong hai nhà Phượng Dương và Phủ Đông; còn Hoàng Vận, Hoàng tứ lang thì có thể miêu tả là cực kì bần hàn, mặt mũi ôn hòa, tính cách lãnh đạm đa mưu, cậu không giấu ý đồ của mình, mục đích đi học là muốn học theo tổ tiên trò lên vị trí Tam công. Còn về phần tổ tiên là ai thì Phù Tô nghĩ trong đầu nửa ngày, tính từ thời Tây Chu Thái công thì không có họ Hoàng nào.
Vóc người Tôn phu tử Tôn Hồ trung bình, không quá nổi bật, dù dung mạo không xuất chúng nhưng con mắt lại rất sáng. Khi ông ta kiểm tra học trò, không hỏi văn, không so võ, chỉ làm một chuyện rất đáng giá – tự giới thiệu gia môn, sau đó từ căn nhà tranh tiếp đãi đệ tử ở xa đi tới chỗ Tôn phu tử hóng mát uống trà là được.
Có rất nhiều con cháu quý tộc ngưỡng mộ Tôn Hồ cũng mặc áo mỏng, lấy tên giả nhưng mắt Tôn phu tử sắc lắm, nhìn qua một cái là biết liền.
Nhìn cảnh con cháu Vương thị ở Cảnh quận bị quét ra, Chương Cam vò đầu bứt tai, “Sao ông ta nhìn ra cơ chứ?! Người này mặc bộ đồ còn rách hơn ăn mày, cũng chả nhìn ra tí khí độ thế gia gì!”
Hoàng Vẫn mỉm cười không nói, Doanh Yến im lặng, Phù Tô vẫn đang suy nghĩ đâu đâu.
Những người ở trước đã bị quét hết hơn nửa, còn có một người ôm chân Tôn phu tử, khóc đến tê tâm liệt phế: “Phu tử, ta rất là nghèo, nhà ta nghèo lắm á!”
Tôn phu tử bình tĩnh nói: “Không, ngươi là con cháu quý tộc.”
Chương Cam ở dưới bóng cây đằng xa nhảy dựng lên la oai oái: “Nói xàm cái khỉ gì! Người này ta nhìn cũng ra mà, tay toàn vết chai dày, nếu trong nhà không nghèo thì sao nhiều vết chai vậy được?”
Hoảng Vận vẫn mỉm cười không nói, Doanh tiếp tục giữ im lặng không nói gì, Phù Tô vẫn đang suy nghĩ đẩu đâu.
Cuối cùng cũng tới, đã tới lượt bốn huynh đệ. Tôn Hồ phỏng vấn học trò tới mức sắp hết kiên nhẫn, giơ đưa quai ấm tử sa rót thẳng nước trà vào miệng nói: “Bốn trò dưới tàng cây, lên hết luôn đi.”
Suốt dọc đường Chương Cam cứ nơm nớp, đảo mắt nhìn ba huynh đệ kia, thấy vô tâm vô phế, hết người này tới người khác vạt áo phiêu diêu, bước chân thong dong.
Tôn phu tử cũng không thèm nhìn bốn người, hỏi: “Muốn ta chọn trò, trò có gì hơn người?”
Chương Cam thở phào một hơi, tự tin để lộ hàm răng trắng như tuyết nói: “Ta tuấn tú, ai gặp ta cũng nói trên đời này, người có thể tranh cao thấp với ta chỉ có Mục Vương thế tử Giác.”
Hoàng Vận mặc bộ đồ đầy lỗ vá toàn thân, đi đâu cũng mang màn thầu theo cười đáp: “Nhà ta nghèo.”
Doanh Yến mặc bộ đồ đen toàn thân, đi đâu cũng mang theo bình thuốc lặng lẽ nói: “Ta đau ốm.”
Phù Tô mặc đồ có tay áo lam, đi đâu cũng cõng vợ theo: “Da mặt ta dày.”
Tôn phu tử vẫn không hề ngẩng đầu, nhìn ấm trà bóng lưỡng trong tay mình hỏi: “Còn gì nữa không?”
Chương Cam rút thanh bảo kiếm ‘hoa phi tuyết chỉnh lý’ sáng quắc ở sau lưng ra, nhảy múa né tránh, bụi hoa mịt mù nói: “Tiên sinh, võ nghệ ta cao cường, từ nhỏ đến lớn không ai là đối thủ của ta. Ta có thể dùng tay không chém được cây cổ thụ nữa, rất lợi hại đó.”
Hoàng Vận nói: “Nhà ta nghèo.”
Doanh Yến nói:“Ta đau ốm.”
Phù Tô nói:“Da mặt ta dày.”
Tôn phu tử nhíu mày, “Không có gì khác?”
Chương Cam ưỡng ngực, tay chắp sau lưng, cười lộ lúm đồng tiền: “Tiên sinh yêu quý, xin ngày cho phép ta đọc thuộc lòng một đoạn sách. Ta đã thuộc ‘Kinh Thi’, còn có ‘sách Chiến quốc’ và ‘Chiêu thư’ rồi.” Sau đó, nàng ta đắc ý đọc một lèo nửa canh giờ.
Hoàng Vận nói: “Ta nghèo.”
Doanh Yến nói:“Ta bệnh.”
Phù Tô nói:“Da ta…”
Tôn phu tử nhướn mắt, cắt ngang lời Phù Tô, dở khóc dở cười nói: “Ta biết da mặt ngươi dày rồi.” Sau đó, ông ta ngẩng đầu nhìn bốn người bọn họ, chỉ vào Chương Cam. Mặt Chương Cam lập tức sáng rỡ, phu tử lại nói: “Ngươi đi đi, ba người bọn họ ở lại.”
Chương Cam sửng sốt, múa hát tưng bừng nửa ngày trời lại nhận kết cuộc như vậy, hóa ra ai da mặt dày mới được nhận à?
“Vì cái gì?” Thiếu niên Chương phẫn nộ gào thét.
Tôn phu tử ngáp một cái, nói: “Trong lòng ngươi tự biết.”
Thiếu niên Chương cắn răng, nghĩ bụng: Ta biết bà nội ông! Hình như vừa nhớ tới cái gì đó, nàng ta giật mình lôi một tờ giấy trong hành lý ra, cung kính nói: “Đây là thứ một vị quý nhân bảo học trò đưa ngài.”
Tôn Hồ xem xong thì mặt thay đổi hẳn, đứng dậy, lạnh lùng nói: “Ta hôm nay vì nể mặt ông ta mà đành phải giữ ngươi lại, nhưng trò ở trong thư viên phải tự giữ trong sạch, tự thu xếp cho tốt! Quý nhân nhìn trúng gì thì ngươi còn biết rõ hơn ta!”
Nửa tuần nay Tôn Hồ đã chọn được ba mươi người trong hơn một nghìn học trò, sau đó đóng cửa núi Xương Hoằng. Trêng trường bên phải treo hình Lý Tử, trái treo tranh Khổng Tử, giữa còn có một bức hình Tôn Vũ sống động như thật, cao tới ba thước.
Ba mươi học trò đến từ Bách quốc, mặc áo sam Vân thủy hạc, cầm ba nén nhang cúng tế tổ sư, sau đó mới về phòng ở được phân. Phù Tô và Doanh Yến ở chung một phòng, Hoàng Vận và Chương Cam may mắn, mỗi người được ở riêng một căn phòng nhỏ. Vì nhà Hoàng Vận là nghèo nhất, ân sư Tôn Trạch Đường giao cho cậu tới xuống chân núi mua sắm hoặc làm mấy chuyện vặt vãnh, coi như là tiền bái sư, vì giờ giấc làm việc và nghỉ ngơi không giống các sư huynh đệ nên được phân cho riêng một phòng. Còn Chương Cam vẻ ngoài tuấn tú thì rất sôi nổi, mọi người chưa nghĩ tới việc đây là một cô nương, chỉ cho rằng ân sư rất coi trọng nên mới cho ở riêng một phòng.
Chương Cam vẫn nghĩ mãi không ra, “Vì sao các huynh và tứ đệ trả lời vừa ít vừa mơ hồ vậy mà lại được tuyển, trong khi ta thể hiện đàng hoàng lại không được chấp nhận?”
Phù Tô thản nhiên nhìn nàng ta, không trả lời. Mặt mũi chàng bình thường chất phác, chỉ có đôi mắt lại trong suốt đẹp mà lãnh lẽo, khiến người ta không khỏi đỏ mặt.
Hoàng Vận nở nụ cười nói: “Ta và các ca ca đều nhận ra, Tôn đại gia chọn người không phải dựa vào giàu nghèo đâu. Người ta nói ông ta chỉ tuyển con nhà nghèo, chắc chỉ là trùng hợp mà thôi. Lão nhân gia là một người cực kì thất thường, mọi thứ đều dựa vào nhãn duyên, cho dù là con cháu vương tôn hay là ăn mày hành khất, ông ta không nhìn trúng thì dù gì cũng không chọn. Vì thế bọn ta cần gì phải đi lấy lòng ông ta chi cho phiền? Chỉ cần thẳng thắn nói cho ông ta biết chúng ta là người thế nào, muốn cầu gì là đủ rồi. Còn chuyện ông ta có đồng ý cho hay không thì phải xem ông ta muốn tìm học trò thế nào.”
Chương Cam kích động hỏi: “Đệ cầu gì thế, vì sao ta không phát hiện?”
Hoàng Vận dịu dàng rũ mí mắt, nhẹ giọng: “Đệ từng nói rồi, nhà đệ nghèo.”
Chương Cam ngập ngừng, xoay người nhìn hai người Phù Tô, Doanh Yến hỏi: “Vậy còn hai người thì sao?”
Doanh Yến u ám: “Ta mang tướng người chết, trên đường phiêu bạc tới không có định cầu thứ gì.”
Chương Cam cố gắng dồn nén nỗi hận đang bốc lên trong lòng, nhìn chằm chằm Phù Tô. Phù Tô lời ít ý nhiều, giọng nói hờ hững: “Ta chỉ nói cho phu tử biết ra, mời thần dễ tiễn thần khó, ta đã tới thì không định rời đi.”
Chương Cam cười, giả vờ lơ đãng vỗ nhẹ vào vai trái Phù Tô, vốn muốn dò xét xem chàng nói thật hay giả, chẳng hay đã biết điều gì mà lại có vẻ sững sờ.
Trước đây chỉ là để bịa đặt thân phận, ai ngờ trong lúc chàng đào vong lại có thêm một vị hôn thê. Chỉ là nữ tử này, chưa từng xuất hiện trong mộng của chàng. Chương Cam chính là nguyên hậu được vận mệnh an bài, vậy còn người con gái kia, rốt cuộc từ đâu mà ra?
Từ lúc đến núi Xương Hoằng, trở về nơi nhân gian vắng lặng vui vẻ này, khiến cho người ta như cảm thấy những ngày ở Hề Sơn như một giấc mộng kì quái rực rỡ sắc màu. Mọi chuyện đều tốt cả, có núi có sông có ăn có sách, Phù Tô thở một hơi dài. Điều duy nhất khiến chàng phải cảnh giác chính là người nghĩa đệ Chương tam lang, mỗi lần đứng ở mấy chỗ tưởng là khuất là lại nhìn chàng một cách thâm trầm, mang thâm cừu đại hận.
Phù Tô đoán ‘Tam đệ’ này có thù oán gì đó với mình, chẳng biết là thù này tính từ hồi nào thôi. Nhưng kì quái là nàng ta không có bất kì hành động gì, chỉ cứ trừng mắt nhìn chàng khiến Phù Tô cũng đứng ngồi không yên.
Từ khi còn nhỏ, Phù Tô chưa bao giờ chung đụng với bất kì thiếu nữ nào ở độ tuổi mình, thế nên cũng chẳng biết phải cư xử làm sao. Mặc dù nàng ta trông xinh đẹp đấy, tiếc là Phù Tô cũng còn trẻ, chưa tới cái tuổi đắm chìm nữ sắc, lại thêm có vị hôn thê lợi hại như Hề Sơn quân, nên đụng phải cô nương tùy hứng điêu ngoa thế này, chàng cứ lẩn đi thật xa.
Thiếu niên Chương Cam nhìn Phù Tô mà thấy mờ mịt. Chàng giống như bóng hình nàng thấy trong mộng, nhưng cũng có phần không giống. Người nam nhân trong mộng không có tính cách lãnh đạm như Phù Tô. Khi Phù Tô bước vào tàng thư các trong thư viện thì có thể không ăn không uống cả một ngày một đêm; còn người đàn ông trong mộng lại ham mê quyền thế, có d*c v*ng muốn khống chế tất cả mọi thứ trong tay rất mạnh, thế nhưng Phù Tô lại như chẳng màng điều gì. Thứ người khác hay tiện tay cầm lên là vàng là ngọc, còn thứ mà chàng hay cầm trên tay lại là con búp bê vải xấu xí tới khó chịu.
Phù Tô là một người quái dị vậy đấy, nhưng mà trên thế gian này làm gì có ngọn núi nào cao nhất? Đương nhiên là không, thế nên có một người còn quái dị hơn cả chàng.
Chuyện này nói thì dài, nhưng không thể không nói.
Từ lúc bốn người kết bái xong, cả ngày đi đứng nằm ngồi đều gần như ở chung một chỗ, hầu như không có khác biệt lắm, nhưng từ từ thì xuất hiện những sự khác biệt. Trong huynh đệ bọn họ, Chương Cam tỏ ra cực kì quan tâm tới Hoàng tứ, Hoàng tứ lại thích chơi cờ nói chuyện với Yến nhị, Yến nhị lại đi theo Phù Tô để đọc sách viết chữ. À nhầm, phải nói là Yến nhị lại rất thích quan sát Phù Tô, thiếu niên hắc y cầm quyển sách, ánh mắt thâm trầm, cứ hay nhìn chăm chú miếng da mặt của Phù Tô, như đang suy nghĩ điều gì. Yến nhị là một người sát phạt quyết đoán, khi chơi cờ, thi đi săn với người khác ở trong thư viện đều không lưu tình tí nào, chẳng giống một người mang bệnh đoản thọ. Nhưng một ngày ba bữa y đều đi nấu thuốc, dáng người quỷ quái khô khốc, không tí huyết sắc khiến cho người ta tin chắc rằng y chẳng sống được mấy ngày nữa.
Doanh Yến đối đãi lạnh lùng với những người khác lắm, chỉ riêng khi thấy hai đứa em ngốc Chương tam, Hoàng tứ thì mới có vẻ ôn hòa một chút. Doanh Yến cũng cực kì tinh thông thuật Chu Dịch, có thể xem Bát tự, xem chỉ tay, bói lành dữ, từng xem mệnh cho mọi người trên núi Xương Hoằng, nói rất chuẩn nhưng cũng rất ít, mười điều thì y sẽ giữ lại một, mọi người đập nồi hỏi tới cùng, Doanh mới nói kẻ tiết lộ thiên cơ thường phúc bạc mà sống dai không chết, mệnh số sai lệch, y thà chết lúc đương tuổi thiếu niên, chứ không muốn uống sương phơi gió làm một xương khô.
Phù Tô nhớ tới vỏ rùa trong tay áo Hề Sơn quân, nàng ta cũng là người rất tinh thông thuật này, vậy mà sống cũng đâu có ít.
Chương tam chế giễu Yến nhị giả thần giả quỷ, y biết cả quá khứ và tương lai, chẳng qua chỉ là chút tài mọn mà thôi. Có đồng môn làm mất túi tiền đã lâu, vui vẻ nhờ Hoáng tứ tìm, thế là thiếu niên đẹp đến mê người vỗ vai trái người kia, nở nụ cười xinh đẹp bảo: “Ngươi vào bếp tìm đi. Hôm trước sư huynh ăn vụng bữa khuya, đánh rơi túi tiền ở ngay hang chuột chỗ thùng đựng gạo đấy.” Sau đó đồng môn kia đi tìm, quá đúng vậy. Từ đó về sau, mọi người càng tin phục Chương tam, cho rằng Doanh Yến sở học không tinh.
Doanh Yến chẳng để tâm, chỉ dặn dò Chương tam: “Đệ chớ đùa với lửa, không biết là ai có dị năng trời sinh này, chỉ thấy yêu khí nhập tràn, tâm tư kì quái, không chừng đang lừa gạt đệ, bố thí cho đệ một chút thì đã đắc ý rồi.”
Hoàng tứ lang không nghe nổi những lời xách mé bén ngọt này, lôi bàn cờ cắt ngang đoạn hội thoại của hai người, kéo Doanh Yến tới tàng cây trong rừng chơi cờ. Hoàng tứ si mê cái trò đen trắng dọc ngang này, không có được mấy bàn cờ, mà cả thư viện cũng chẳng mấy ai thắng nổi cậu ta. Phu tử là một, Yến nhị là người thứ hai.
Hoàng Vận đánh cờ thường là kiểu tới cuối mới phơi bày hết ý đồ quỷ quyệt của mình, ai xem trận cờ cũng phải tán thưởng không ngớt, cảm thấy thật là thú vị, nhưng phu tử luôn thừa dịp b*p ch*t trước khi cậu bày xong trận cờ, còn Yến nhị lại dung túng để cậu bày xong vạn vật núi sông, rồi sau đó mới diệt sạch một lần. Hoàng Vận cười nói: “Doanh nhị ca, đến khi nào đệ mới thắng một ván đây?”
Yến nhị quăng cờ đi, mang vẻ mệt mỏi, ho khan: “Hôm nay tới đây thôi, cái trò này, chỉ chơi với đệ mới thấy chút hứng thú.” Mỗi đêm Yến nhị đều đi nghỉ cực sớm, trời vừa tối đã ngủ rất sâu.
Màn đêm buông xuống, là lúc không biết vì sao mà Doanh Yến ‘chết’ một lần.
Đó là vào một tháng sau khi bốn huynh đệ tới núi Xương Hoằng, hôm đó trời đầy sao, đang nổi gió tây. Phù Tô vẫn chôn mình đọc sách trong thư xá, không phân biệt được ngày hay đêm. Ngày hôm đó, chàng vẫn như mọi ngày, đêm xuống mang theo đèn lồng giấy trở về phòng mò mẫm đẩy cửa ra. Ai ngờ trong phòng có ánh lửa, càng cúi người nhìn xem, thì ra Yến nhị đang dựa vào lò thuốc mà ngủ. Chàng lấy một chiếc chăn mỏng trên giường mang tới, vừa mới định đắp lên người thiếu niên, tay lướt qua dưới mũi y thì cứng đờ cả người.
Không có hơi thở.
Phù Tô hơi bất đắc dĩ. Trong thư viện này không ai biết chuyện này, buổi tối gần đây Yến nhị lại bỗng dưng mất đi hơi thở, giống như một người chết. Trước đây chàng vô ý phát hiện ra, định cõng y đi tìm đại phu, vậy mà đôi mắt âm trầm kia lại bất ngờ mở ra, không hề có vẻ kì quái. Yến nhị cũng chưa từng gọi chàng là đại ca, cứ gọi chàng là ‘Tên lòng dạ đáng chém’.
Phù Tô đoán, có lẽ người này là con dơi yêu hoặc con cú yêu gì đó, đời sống ngược với tập tính loài người.
Phù Tô định rời đi thì thiếu niên kia lại mở mắt, thở dài một hơi, lẩm bẩm: “Phiền phức.”
Y nhướn mắt lên nhìn Phù Tô đang giả trang Cơ Cốc, nhìn kĩ hồi lâu mới hỏi: “Phiền ta phải tốn rất nhiều công sức để truy lùng ngươi. Hôm nay Cơ Cốc đã quy án tự thú, vậy ngươi là ai?”
Ngày hôm sau, Phù Tô đẩy cửa ra thì lại gặp phải một cục phiền toái lớn. Một tiểu cô nương thanh tú mặc áo đỏ đang quỳ gối trước phòng ngủ. Nhìn thấy Cơ Cốc mở cửa, cô ta cũng hoảng hốt, “Ngươi… vì sao ngươi lại ở đây? Doanh phán sĩ có ở đây không?”
Cuối cùng Yến nhị cũng cột lại chiếc áo sam màu đen xong, xoay người ho khan. Y đi ngang qua tiểu cô nương, lạnh lùng nói: “Cô đi đi, có gặp được ta cũng vô dụng.”
Cô nương áo đỏ ngẩng đầu lên, “Cầu xin đại nhân cứu cha ta, ông ấy chỉ xử sai một vụ, không đáng để rơi vào tình cảnh này!”
Yến nhị trầm giọng: “Vì một mình ông ta lẩm cẩm vô tri khiến cho hung phạm có thể chạy trốn tới bây giờ mới quy án.”
Cô nương áo đỏ ngẩng đầu lên, giữa lông mày vẫn còn vẻ non nớt. Cô ta nói: “Sao ta không biết phụ thân lẩm cẩm vô năng? Nhưng bản tính ông ấy lương thiện, cần cù chăm chỉ, làm quan hai mươi năm ngày nào cũng như ngày nào, không hề lười biếng, cũng vì tự biết bản thân mình không thông minh nhanh trí, sợ sẽ hàm oan dân chúng mới lấy chuyên cần để bù đắp. Tháng trước ông lật lại sổ sách vụ án mới biết mình đã xử sai, chủ động thỉnh tội với Bình vương và Thiên tử, dùng toàn lực lùng bắt hung phạm. Biết sai mà sửa, lòng mang thiện luôn. Huống chi án này chưa thành mối họa với dân chúng, vì sao Phán sĩ lại muốn lấy đi tuổi thọ của ông? Tiểu nữ không phục!”
Yến nhị phất tay áo lạnh nhạt: “Thế cô có biết, cũng vì bọn cường đạo kia chưa bị bắt xử nên đã gây ra thêm mấy vụ đại án, làm hại biết bao nhiêu mạng người Lũng Đông. Chúng quăng thi thể xuống Vân Hải Xích Giang, là một nơi cực dương, ngay cả bọn ta cũng không thể dắt hồn, người bị hại không thể đầu thai, chỉ có thể hại người khác đổi mệnh, tính thử xem chuyện này đã hại chết bao nhiêu người? Nguyên nhân chuyện này, cũng đều vì người cha vô năng của cô, ta bị giáng chức tới đây, suốt dọc đường bị oán quỷ dây dưa cũng bởi vì ông ta! Đáng hận là ông ta nhờ thầy bà mà tìm được ta ở đây, biết mệnh cô rất hiếm mà cầm tay cô vào giấc mộng kéo mặt nạ của ta, biết được mặt thật của ta để hòng muốn xin lại mạng sống kéo dài hơi tàn. Không tính toán xử ông ta tội nặng thì đúng là khó giải mối hận trong lòng ta!
Trời dần sáng rõ, tiểu cô nương áo đỏ cúi gục đầu, rơi nước mắt lã chã, mím chặt môi không lên tiếng nữa.
“Hằng Xuân, vì sao con ở đây?” Tôn phu tử ngáp một cái, từ hậu viện đi tới tẩm xá gọi các đệ tử dậy sớm tập luyện, lúc này hoảng hốt nhìn tiểu cô nương đang quỳ trước mặt.
Thì ra tiểu cô nương này là con gái của Kim Ô Thái Thú, cháu nhà mẹ của Tôn sư nương, ở xa tới thăm người thân, hôm nay Hằng Xuân mới tới Xương Hoằng.
Yến nhị lạnh lùng bỏ đi, trước khi đi còn nhìn Cơ Cốc một cách hồ nghi không rõ.
Hằng Xuân đứng dậy lau nước mắt hành lễ, Tôn phu tử chẳng hiểu chuyện chi.
Đến khi tan học, mọi người về phòng, quả nhiên Hằng Xuân không còn quỳ ở chỗ cũ nửa, Cơ Cốc thở phào nhẹ nhõm đẩy cửa bước vào, suýt nữa té trật chân.
Đúng vậy, tiểu cô nương không quỳ bên ngoài nữa, cổ quỳ trong phòng.
Doanh Yến chỉ tỏ ra không nhìn thấy cô ta, mặt mặt u ám xách ấm lô đi nấu thuốc. Hằng Xuân đã quỳ gần cả ngày, cũng không muốn để mọi người nhìn thấy, chỉ quỳ trong một góc tối.
Cơ Cốc vẫn cứ nhìn nàng, hồi sau cúi người tò mò hỏi: “Ồ, cô có thể quỳ bao lâu lận?”
Hằng Xuân là một cô mọt sách thật thà, cô nói: “Nếu mỗi bữa ăn hai bánh bao thì có thể quỳ hai ngày một đên, nếu không ăn không uống thì chắc chỉ có thể nhịn tới rạng sáng mai thôi.”
Cơ Cốc gật gù, tiếp lời bằng một giọng nói bình thản không ngữ điệu: “Vậy cũng giỏi lắm rồi.”
Hằng Xuân rưng rưng: “Hôm qua ta tận mắt thấy ngươi bị quỷ hồn dìm xuống chảo dầu dâm ti, rõ ràng là đầu lĩnh của lũ trộm kia, vì sao ngươi không chết?”
Con ngươi Cơ Cốc đen láy nhìn cô ta, bình thản đáp: “Không nói cho cô.”
Hằng Xuân rơi nước mắt gật đầu, “À.”
Trong khoảnh khắc đó, bỗng nhiên có một con chim oanh tím bay tới, bộ lông sáng bóng, dáng vẻ tuấn tú cao quý. Nó bay nhanh tới đâm thẳng vào người Yến nhị.
Hằng Xuân thấp giọng gọi: “A Kha!”
Yến nhị bị nó đập vào người tới mức ho khan.
Trên đường từ Kim Ô tới, con chim này bị gió thổi tới trước xe bò. Nó bị thương nặng lắm, trên thân còn có dấu tay bị người ta ngắt véo. Hằng Xuân thấy tội nghiệp nên nuôi dưỡng.
Lúc xảy ra tất cả chuyện này, Cơ Cốc đã nhanh chóng cầm sách lên sẵn, đứng nhìn. Hồi sau, cái đầu nhỏ màu tím kia cứ ngó nghiêng liên tục trong căn phòng nhỏ chật hẹp, nhìn chỗ này ngắm chỗ kia như một con người, hình như còn có biểu cảm nữa.
Hằng Xuân quỳ phục, bắt giữ nó trong lòng, mắt ửng đỏ giải thích: “Xin Phán sĩ tha lỗi, tiểu nữ không phải cố tình vô lễ với ngày đâu. Con chim này trời sinh bướng bỉnh, chưa được dạy dỗ đàng hoàng mới đụng trúng ngài.”
Yến nhị giật lại quyển sách Cơ Cốc đang cầm trên tay ném xuống đất, ho nặng: “Rốt cuộc ngươi là người phương nào?”
Vẻ mặt của Cơ Cốc vẫn không đổi, ngẫm nghĩ rồi kéo lớp mặt nạ trên mặt xuống, lộ ra một khuôn mặt còn bình thường hơn cả Cơ Cốc. Chàng nói: “Ta vốn là con nhà thế gia, nghe nói quá nửa học trò Tôn phu tử thu nhận là nông dân, ở quê có một nông dân xấp xỉ tuổi ta, cân nhắc rất lâu mới thuê thợ thủ công giang hồ một năm tiền lương, làm ra một cái mặt nạ rồi mượn tiếng là nông dân, tới đây xin học.”
Trong các thợ thủ công không thiếu người biết làm mặt nạ đổi mặt, nước Sở thì càng nhiều hơn.
Những điều Cơ Cốc nói rất trôi chảy, tuy rằng khuôn mặt vẫn không có biểu cảm như trước nhưng vẫn có thể coi là thành khẩn. Yến nhị cúi đầu, lại ho khan, không biết tin rồi hay chưa.
Mãi lâu sau Yến nhị mới thắp nến, chỉ vào Hằng Xuân đang quỳ trên đất, khuôn mặt tú lãnh chính trực, “Đêm đã khuya, mời cô nương về.”
Hằng Xuân mím môi, nước mắt lại rơi thành hàng. Cô nói: “Hồn phách cha ta ở dưới âm phủ chờ bị dắt đi, đại phu nói không chịu nổi hai ba ngày. Ta biết phụ thân đã phạm phải sai lầm lớn, vô tình khiến đại nhân khó xử, nhưng chuyện đã tới nước này, tiểu nữ chỉ biết cầu xin ngài, nếu không tận lực thì tiểu nữ cũng không thể ăn ngon ngủ yên. Dù đại nhân không thể đáp ứng, chỉ xin ngài đừng ngăn tiểu nữ tận hiếu.”
Cô nói rồi vịn vào bình phong giữa phòng đứng dậy. Lúc này trời đã tối mịt, cô đẩy cửa bước ra, quỳ gối ở ngoài.
Cơ Cốc mang mặt nạ lên lần nữa, bình thản nói: “Cô gái này thông minh hiểu lý lẽ đấy.”
Ban ngày thì quỳ gối trong căn phòng không ai thấy, cũng không dùng sức ép của bản thân hay mọi người để phiền nhiễu khả năng phán đoán của Yến nhị. Đêm tối quỳ ngoài cửa vì quy tắc nam nữ, cũng tránh làm phiền Yến nhị nghỉ ngơi, hành sự lần này rất thỏa đáng.
Đảo mắt, Yến nhị đã nằm thẳng cẳng trên giường, mất đi hơi thở. Cơ Cốc đang cầm nến đọc sách thì vấp phải lò thuốc, phải vịn vào thành giường Yến nhị mới đứng vững, vô tình chạm phải tà áo đen của Yến nhị, lạnh tới cực điểm, chưa kịp thu tay về thì miệng phà ra hơi nóng, sau màn sương mù là một xoáy nước kì lạ biến hóa, lúc xoáy nước đứng yên thì trong đầu Cơ Cốc đau nhói, nhắm mắt, trong đầu hiện ra một vài cảnh rõ nét.
Hắc y thiếu niên mặc chiếc áo bào màu đen hình tiên hạc, mang mặt nạ quỷ, ngồi lạnh lùng trên công đường. Đập mạnh kinh đường mộc (*) một cái, rất nhiều đầu trâu mặt ngựa áp giải dám quỷ hình dạng mờ ảo, sắc mặt tái nhợt, chúng nó đều kêu oan, còn hắc y phán quan đang ngồi trên công đường vẫn cương trực, trầm giọng quát…
(*) Là thanh gỗ mà các quan xử án cầm trong tay để gõ mạnh lên bàn
Chúng bây có biết, lúc còn sống ở dương thế đã phạm tội gì không?
Mi sinh mệnh tiện, không chịu chấp nhận, mưu đồ giàu sang, cướp vận đoạt mệnh, có biết tội gì?
Mi sinh phú quý, nhưng tùy tiện ngang ngược, tàn bạo vô thường, khinh người ti tiện, đã biết tội chưa?
Đời trước mi nhận hết kiếp nạn, đáng ra kiếp này khổ tẫn cam lai, thế nhưng dối trên gạt dưới, bỏ vợ đánh con chỉ vì muốn cưới một phụ nữ xinh đẹp giàu có khác để gia đình phát đạt. Mi có biết ả đàn bà xinh đẹp kia kiếp trước là một con hổ ăn thịt người, người vợ Tào khang của mi chính là thiên mẫu lịch kiếp tới nhà, con trai mi sau này sẽ trở thành một người có địa vị cực cao, phúc ấm truyền năm đời! Ngu xuẩn! Dốt nát.
Kiếp này mi được trường thọ hưởng phúc, cả đời làm thiện, vốn vô tội, đáng ra sẽ được đầu thai thành người, thế nhưng hôm nay con dâu mi sinh nở một đứa trẻ tàn tật, bản phán đã suy nghĩ mãi, phải lật ‘Ghi chép nhân thế’ ra xem, lúc mi còn sống cả đời hành thiện nhưng mà cha mẹ con cái gây nghiệp chướng. Hành thiện để rồi yên lòng hả dạ, ngày đêm ngủ yên, không lo quản lý nếp nhà, không cải tạo gia môn nên mới báo ứng đến đời con cháu. Thế cần gì làm thiện? Nếu việc thiện ấy xuất phát từ ác tâm thì khác gì điều ác? Đại ác, đại khinh! Trên dưới nghe lệnh, tống vào đường heo chó!
Trong cơn hoảng hốt, trán Cơ Cốc đầy mồ hôi, bỗng dưng bị ai nắm cánh tay. Chàng mở mắt, như mơ lại như không phải trong mơ, cặp mắt của Phán quan âm phủ cũng đã mở. Phán quan ngạc nhiên nhìn chàng, khuôn mặt dưới ánh trăng tái nhợt. Yến nhị ban đêm là Phán quan dưới âm phủ, ban ngày là một thiếu niên bệnh tật yếu đuối khàn giọng hỏi: “Huynh chưa ly hồn, sao có thể thấy?”
Người ly hồn đi vào giấc mộng để nhìn thấy cảnh âm phủ đang quỳ lảo đảo ở ngoài cửa. Nghe nói, mệnh cô ta rất hiếm.
Ngày hôm sau, Yến nhị đẩy cửa bước ra. Mắt Hằng Xuân sưng đỏ, ánh nhìn vẫn trong veo như cũ. Đã một ngày một đêm cô không ngủ rồi. Yến nhị lạnh lùng liếc nhìn rồi mới nói: “Đừng quỳ nữa, đêm qua ta đã thả ông ta quay về. Niệm tình cô thành khẩn hiếu thảo như vậy, ta tạm thời tha cho ông ta sống thêm vài năm. Nếu thiên ý muốn ông ta chết trước, sẽ trừ ngược vào số mệnh của cô. Từ hôm nay trở đi, đừng nhắc tới chuyện này với ai, nếu hại ta giáng chức nữa, ta sẽ bỏ phụ thân ngu như lợn của cô vào chảo dầu cho nổ thành thuốc!”
Thiếu niên Yến nhị rất không hiểu tại sao có người ngốc tới mức phán vụ án bị cường đạo giết thành án tự sát, cũng như y không biết tại sao bản thân mình còn trẻ như vậy mà dưới âm phủ cứ được thăng từng chức, lên tới chức Thượng tả phán này. Sỉ nhục lớn nhất trong kiếp xử án này của y là đã không bắt hồn lũ cường đạo kia đúng thời hạn. Ấy cũng vì Kim Ô Thái thú bỏ qua, để đám cường đạo kia mất tích trong một đêm, rồi xuất hiện trong đêm nọ một cách thần kì, ba mươi mấy tên quỷ tặc, đều đồng loạt đầu thú, nói không biết ai giết mình, khóc lóc xin Doanh phán quan làm chủ cho. Thiếu niên Yến nhị cười lạnh, quăng chúng xuống ngục cắt lưỡi. Còn tên thủ lĩnh Cơ Cốc chân chính thì đã mơ hồ tới đầu thú vào đêm sau. Gã nói vì mình chia đồ cướp không đều nên bị đồng bọn g**t ch*t vứt xác đã lâu, thành cô hồn dã quỷ rồi mà vẫn mãi không tìm được đường xuống âm phủ.
Thiếu niên nhớ lại chuyện trước đây, vì theo dõi ‘Cơ Cốc’ tới đây, nay mới phát hiện mọi thứ không đúng. Hồn phách ‘Cơ Cốc’ này rất tinh thuần, khiến nhất thời y không quyết định được có nên bắt hồn hay không. Bây giờ xảy ra chuyện này thì may là không bắt, nếu không vừa hàm oan người ta mà còn bị giáng chức. Kì này bị giáng đi nhậm chức ở cực đông Bình Cảnh là cực hạn lắm rồi, nếu giáng nữa chắc xuống tới Đông Hải luôn quá.
Sau khi chuyện này chấm dứt, thư viện trở về yên tĩnh vốn có, Mẫu thân Hằng Xuân viết thư gửi tỷ muội, sau đó Tôn sư nương để Hằng Xuân đi theo bên cạnh cho tiện dạy dỗ. Thế là từ đó Tôn Hồ cho các đệ tử đọc ‘Tần hành ngũ’ trước viện, sau nhà vang tiếng ‘Sở nữ’(*đại ý là mỹ nữ, người con gái đẹp) một cách không hề ngần ngại. Trong thư viện to như vậy, bỗng có một cô nương, một đám thiếu niên đáng lẽ phải sôi nổi rần rần, vậy là từ khi Hằng Xuân tấu khúc đó xong thì mọi người liền biết đây là một cô gái ngốc, chẳng liên quan gì tới mỹ xưng ‘sở nữ’ cả.
Thiếu niên thích phong lưu, so với một tiểu Hằng Xuân còn để tóc mái ngố thì những thiếu nữ dáng người đầy đặn giỏi ca múi ở Đoái quán dưới chân núi trong trấn hấp dẫn hơn nhiều. Thế nên lũ nhóc choi choi này thường tranh thủ lúc Tôn phu tử ra ngoài thăm bạn sẽ chạy xuống núi chơi bời. Thường học các cụ cả gan quát ‘Cho ta cô nương xinh đẹp nhất’ khiến mọi người cười phá lên, cả đám đều tự thấy xấu hổ.
Trong sương mù phủ vây, một thiếu niên mặc áo màu nước gánh củi đi tới, cài mão anh tuấn, đẹp tựa thanh sơn bích ngọc, từ từ nở nụ cười: “Tiểu sinh mua củi mà tới, trong miệng khát khô, xin chén nước trà, các tỷ tỷ ơi.”
Các thiếu nữ ngây người cả ra, ùa ra như ong vỡ tổ vội vã đi châm trà, người này đẩy người kia, chúng mỹ nữ tranh nhau, cứ như ai đút nước cho cậu được là may mắn lắm không chừng.
Mọi người không cam lòng, nhìn qua, thì ra là sư đệ Hoàng tứ lang. Cậu ta thật cổ quái, trên người có một cảm giác mạnh mẽ không phân biệt tuổi tác, lại lộ ra vẻ dịu dàng lẫn cố chấp từ trong xương tủy, chả cái nào mang lại tí khói lửa nhân gian.
Đằng sau cậu xuất hiện một thiếu niên tóc tai gọn gàng nghiêm mặt hỏi: “Đệ tới đây làm gì?”
Chúng sinh lại thầm than, đây vốn là một mỹ nhân thật sự, khí chất tự nhiên, tiếc sao lại là đàn ông cơ chứ.
Hoàng tứ lang nhoẻn miệng cười, “Tam ca, đệ khát.”
Có cô gái bàn tay thon dài bưng nước đưa tới trước Hoàng Tứ, sóng mắt đầy ý cười, “Mời lang quân dùng.”
Mặt Chương tam càng cứng ngắc, thô lỗ giật lấy ly nước đưa tới môi Hoàng tứ, “Uống!”
Hoàng tứ tỏ vẻ ái ngại nhìn cô gái, nhẹ nhàng cúi đầu nuốt mấy ngụm nước. Chương tam giống như một con vịt nằm ngồi khó chịu, cả giận: “Có một gánh củi thôi mà, sao vô dụng tới vậy?”
Nàng ta nhét chén trà vào tay Hoàng tứ, sau đó cõng bó củi lên bước nhanh về phía trước.
Vì nhà nghèo, không trả nổi tiền bái sư, may mà Tôn phu tử phúc hậu nên cho cậu làm vài việc mua sắm lặt vặt coi như tiền học phí.
Hoàng tứ lắc nhẹ chén trà nhìn Chương tam dần xa, cúi đầu, lông mi che mắt, khóe môi lại bất giác nở nụ cười: “Đa tạ cô nương.”
Từ ngày hôm đó, tuy sau giờ học Hoàng tứ làm việc vặt nhưng lại không chẻ nổi củi gánh nổi thùng, xuống núi thở hổn hển, lên núi thở phì phò, khi đó Chương tam công tử sẽ đồng tình ôm đồm giúp cho hết thảy. Nếu có ngày nào thấy mệt, nhắm mắt nghe thấy tiếng cười nhẹ nhàng: ‘Ngũ mã phanh thây, đầu lâu phơi nắng’ thì Chương tam sẽ lập tức giật mình tỉnh dậy.
Bình thường mọi người đều biết Yến nhị có tật xấu sẽ té xỉu hoặc bật tỉnh bất kì lúc nào, dù sao cũng không chết nên chẳng ai quan tâm mấy. Sau khi ăn xong, Cơ Cốc về phòng, tịch dương từ từ phai, Yến nhị đang nấu thuốc trong lò, bỗng lại dựa cửa rồi ngất đi. Làm Phán quan chuyên cần quá, nhân gian chưa tối hẳn mà công việc dưới âm phủ đã lu bù. Cơ Cốc lạnh lùng là vậy, dù rất muốn giơ chân đạp xuống người y nhưng chân còn chưa hạ thì Chương tam đang cực kì bất bình chỉ vào chàng mà quát: “Đại ca, coi chừng thiên lôi đánh xuống đó!”
Cơ Cốc quay đầy, nhìn cái bàn gỗ lê mới mua, trán Chương tam đang nổi gân xanh, gật đầu, “Ừ, chết không siêu sinh đệ.”
Bốn người huynh đệ cũng có vài phần hục hặc và mâu thuẫn. Ngươi thích ta, ta hận hắn, hắn phòng hắn, hắn lại đang cười hắn.
Sau thư viện có một ao nước, vào mùa xuân, phu tử rắc một túi hạt giống to, định để cùng lũ học trò thưởng thức cảnh sen phong nhã. Tới mùa hè lại mọc ra một phiến lá sen to đùng, những hạt giống còn lại đều trống không.
Vào ngày những ngày nóng nhất, Tôn phu tử gắng gượng chịu đựng cảnh này, nhìn ra cái lá sen to cùng các học trò ăn rồi uống chén rượu. Lưu manh trên đời dễ say, thư sinh dễ si, giờ thì ngược lại, đám thư sinh ở đây còn giống lưu manh hơn lưu manh, uống tới quên trời quên đất. Tôn Hồ nhìn trong vườn đều là các thiếu niên tuấn tú, lòng nổi hào khí, cười ha ha nói: “Xem thử Tam công cửu khanh của Chiêu, có bao nhiêu văn võ từ núi Xương Hoằng ta!”
Hoàng tứ uống rượu rất nhanh, tỏ ra cực kì thích thứ trong chén này, lè lưỡi đón từng giọt mỹ tửu đang rớt xuống, một thân áo dài xanh nhạt thổi bay trong gió, như thổi ra cảnh xuân bằng bức tranh thủy mặc, đến khi bình cạn rồi thì ôm cây đàn cổ ngồi trên bãi bèo, chả biết cậu đàn gì, nhưng khiến người ta cảm thấy tuyệt vời vô tận như khúc ca tiên nhân, cùng với hào ngôn của Tôn phu tử, mang hứng khởi tuôn trào, hơi rũ mắt cười, ma đạo thanh tiên da, d*c v*ng dính bụi trần, gió không ngừng thổi, người xem chưa đủ.
Tôn phu tử nhắm mắt, nhịp đũa bạc vào thành chén, cùng hòa thành điệu. Ca khúc vừa hết, Hoàng tứ lang ngửa mặt lên trời rồi ngủ, mái tóc dài đen như tảo xanh lơ lửng dưới làn nước trong xanh, như bèo tụ, rồi nhanh chóng tản đi.
Chương tam thiếu niên rất yêu thương người huynh đệ này, nhìn thấy sau khi cậu uống rượu làm cuồng, sợ bị lạnh nên vội vàng xuống ao đỡ lấy. Dưới hồ nước có thứ gì đó đẩy Chương thiếu niên một phát, khiến nàng không giữ được trọng tâm té cái bõm xuống nước. Yến Nhị nhìn qua thì thấy Chương thiếu niên đã đứng nửa người dưới ao vừa đập nước vừa la làng: “Ôi trời! Ta không biết ơi! Á! Sao cái lá sen này trơn vậy không có nắm được!” nàng ta càng đập nước càng xa bị đẩy xa bờ hơn, còn tiểu huynh đệ khác đã say tới bất tỉnh nhân sự. Yến Nhị thầm nghĩ hai con người này hoang đường vô đức, nhíu chặt mày nhìn tìm Cơ Cốc: “Đại ca, mau đưa về đi!”
Mọi người nhìn thấy bốn anh em như vậy thì hớn hở xem trò cười, Phù Tô vẫn không có biểu cảm nhìn Yến nhị, chỉ muốn hỏi một câu, – Cô thế này mà giống như oan đại đầu ngươi nuôi à? Nhưng nghĩ lại thấy mình cũng không dây nổi vào Phán quan, bèn cởi áo ngoài rồi nhảy xuống nước.
Chương thiếu niên đạp nước bám vào gốc sen duy nhất, khi gió thổi mang một làn không khí trong lành, hít thở hít thở, trong đầu nàng bỗng ập vào rất nhiều hình ảnh, cái lá sen này mà cũng có kiếp trước kiếp này à? Ấy mà lại phức tạp hơn cả người nữa. Chương tam không nhìn nữa, hơi thở nghẹn lại, đất trời đảo lộn, như một miếng da chết, nắm vào cành sen, từ từ cúi đầu chìm vào nước. Phù Tô bơi từ xa tới, cảm thấy mùi lá sen thơm nồng quẩn quanh trên mũi, bóng người trên bờ như bị bao phủ trong làn sương, dày đặc như một vại dầu, chẳng còn nhìn thấy rõ gì nữa trừ gốc sen kia. Cánh tay trắng nõn của Chương tam rơi xuống, chàng nâng cằm thiếu niên lên, người này bỗng ngơ ngác mở tròn mắt, và cứ thế nhan sắc khuynh thành hòa hợp cùng làn nước cứ như trăng sáng đang tỏ trong lòng bàn tay của chàng thiếu niên. Phù Tô ngẩn ra, tim chậm nửa nhịp, như vừa nhớ vừa quên chuyện gì. Chàng lấy lại tinh thần, bỗng nhiên lá sen trở nên cực kì khổng lồ, phiến lá như che bết bầu trời, có giọt nước hồ rớt xuống trán chàng.
Phù Tô ôm chặt thiếu niên trong lòng, mãi tới khi nghẹt thở.
Phù Tô từng đọc một quyển sách, mơ một hai giấc mộng hoang đường. Giờ đây, lại là một giấc mộng, nhưng chẳng được cơ hội chìm trong nồi hoàng lương thóc gạo quen thuộc, ngược lại nằm ở dưới một cây sen không hoa, chỉ nhận thức được một hai. Tác giả ghi tới đây cũng thấy cảm khái, giấc mộng thế nhân thật quá nhiều, cũng thật phiền. Tuy nhiên đều là tiền căn hậu quả, nếu trùng hợp là do định số, muốn ta thân chúng nhân, cũng nguyện thế sự thông suốt tự do, mới cảm thấy sống vậy tiêu sái thoải mái. Lá sen này đã sinh mộng, chi bằng cứ kể lại.
Công tử Phù Tô tỉnh lại. Thế giới thay đổi, chàng cũng thay đổi.
Không nhận ra cảnh trước mặt, nghe thấy tiếng chuông xa xa.
Phù Tô cảm thấy cả người ngấm ướt, cúi đầu nhìn bản thân khô queo đen thui, tứ chi dài ngoằng, trên đầu có hai sợi tơ thật dài, rũ vô lực cạnh chân.
Chàng… đã thành gì rồi?
Giương mắt nhìn, thấy mọi thứ xung quanh đều to đến đáng sợ. Xa xa có mấy nữ tử mặc gấm vóc lụa là đang ầm ĩ đi tới, bọn họ cao che trời, giống như người khổng lồ trong ‘Chí quái lục’. Những cô gái này đi ngang qua chàng, chân to như con thuyền, xinh đẹp nhưng giậm rất mạnh, mặt đất cũng run bần bật, suýt nữa Phù Tô không đứng vững nổi, đành phải lấy tay bám trên mặt đất.
“Các tỷ tỷ có nghe gì chưa? Hôm nay nhị công tử làm thơ trong cung, vừa được khen nữa đó?” Một nữ quái v*t t* l*n trong nhóm đó mở đôi môi màu đỏ tươi, phun nước bọt lên người Phù Tô như mưa rơi, sau khi Phù Tô núp dưới phiến lá khô, như cành mẫu đơn nở rộ rồi tàn úa, đều là những thứ chàng hay thấy bình thường, nhưng bây giờ lại to lớn hơn rất nhiều lần.
✦ Truyện cùng thể loại
Rể Ngoan Xuống Núi Tu Thành Chính Quả (Rể Ngoan Giá Đáo)
2.521 ch
Không Biết A Tỷ Là Nam Chính
33 ch
Kẻ Canh Giữ Bóng Tối - Hứa Thất An (Đại Phụng Đả Canh Nhân - Bản dịch chuẩn)
2.085 ch
Xuyên Thành Phản Diện Làm Sao Để Sống Đây
239 ch
Đêm Xét Nhà, Ta Từ Hồ Sen Sống Lại
26 ch
Thần Khúc
1.789 ch
Mỗi Đêm Đi Đến Động Phủ Của Sư Tôn
60 ch

Việt Hùng Diễn Nghĩa - Tiểu Lão Nhân
155 ch
“Năm nay Nhị công tử chỉ mới bảy tuổi thôi, vậy mà có tiền đồ thế này, không hổ do Điện hạ nuôi dưỡng. Quả nhiên là con rồng sinh, khác với giống loài phàm tục hạ tiện.” Một thiếu nữ khổng lồ búi tóc kiểu minh nguyệt cũng mở miệng.
“Suỵt, đừng để đại nhân nghe được mấy lời này. Đại nhân phúc hậu, mặc dù không yêu thương nữ nhân phàm tục kia nhưng đại công tử, tiểu cô nương đều là con ruột, chúng ta hầu hạ bên cạnh Điện hạ, ăn nói càng phải cẩn thận.” Đây là một bà lão lớn tuổi, giọng nói cũng ổn trọng hơn nhiều.
“Phi! Bà đừng nhắc tới loại tiện phụ đó, ta vẫn cảm thấy kinh tởm, mấy năm trước bệnh tình nguy kịch vậy mà vẫn có thể câu dẫn đại nhân, sinh ra loại tiện chủng này! Đại nhân đã từng đồng ý với Điện hạ, không bao giờ bước vào phòng thôn phụ kia nữa, đứa tiện chủng đó đúng là như đánh vào mặt Điện hạ của ta. Cũng đâu phải tỷ tỷ chưa từng thấy, những ngày đó Điện hạ đã đau khổ đến thế nào!” Người khổng lồ búi tóc minh nguyệt phun mưa dữ dội hơn, Phù Tô lo lắng kéo lá che.
“Ây dà, đứa bé kia cũng chẳng phấn đấu gì, ba tuổi rồi mà vẫn còn không biết nói, mặt mũi cứ ngu si. Đại công tử không thích nó, quanh năm suốt tháng Đại nhân cũng chẳng nhìn nó được mấy lần.” Bà lão già dặn cảm thán, cùng hai nữ tử rời đi.
Phù Tô thở phào nhẹ nhõm, thế mà chưa lấy lại tinh thần lại đột nhiên thấy trời bắt đầu tối dần, từ từ tối, rồi thêm tối…
Hay là trời sắp mưa thật? Phù Tô bọc lá cây quanh người, nhìn thấy hai con mắt cực kì đen, cực kì to và cực kì… hung ác.
Gấu! Gấu! Gấu!
Cổ họng Phù Tô khô khốc, chưa kịp mở miệng thì đã bị đập một cái tới bất tỉnh.
Đến khi chàng tỉnh lại thì mới phát hiện đây không phải là một con gấu lớn mà là một đứa bé khổng lồ.
Cái đầu to, bàn tay nhỏ bé mập mạp, trên người là bộ quần áo rách rưới, nằm dài trên đất, chiếc giày đầu hổ đã mòn tới mức rách toạt lộ ra bàn chân rướm máu. Dưới mắt xanh xanh, trong mắt hung hăng, hai ngón tay nâng, đang rất nghiêm túc, và cũng phần nào hưng phấn nhìn chàng.
“A!” Đứa bé khổng lồ hung hăng lấy ngón trỏ chọt vào Phù Tô, khiến chàng ngã nhào trong bùn.
Phù Tô chống tay muốn gượng dậy thì đứa bé lại cười khanh khách, bàn tay thô lỗ kéo hai sợi tơ của chàng, tay kia thì kéo người chàng ra sau.
Chỉ một lát sau, hai sợi tơ đã bị kéo ra khỏi thân thể, Phù Tô cảm thấy cực kì đau đớn, hình như còn đau hơn khi tay mình bị đóng đinh rất nhiều, tựa như bây giờ mới lờ mờ hiểu được rằng sợi tơ đó không phải thứ bên ngoài mà chính là một bộ phận trong cơ thể chàng.
Nay chàng đã biến thành một quái vật giống như đám người khổng lồ này, à không, có lẽ bọn họ không phải quái vật mà là chàng mới đúng. Đứa trẻ đối với chàng thật to lớn kia nhìn chàng bằng đôi mắt sáng trong, há miệng to, hồi sau, dưới chân chàng là một giọt nước bọt thật to. Phù Tô nhìn ‘hồ nước’ trên bãi bùn khô mà kinh ngạc, mãi đến khi bãi nước bọt thấm hết vào bùn thì thiếu niên từng có tướng mạo đẹp đẽ này mới nhận ra, – trong mắt đứa trẻ này, bản thân mình chỉ là một con dế mèn sắp chết trong mùa thu chỉ đáng để nghịch một chút mà thôi.
Công tử Phù Tô chạm vào một cái lá sen to, biến thành một con dế mèn gầy nhom. Chàng cảm thấy nhân sinh như một cái thớt, chàng là con trâu xoay chuyển cái thớt đó, trời không cho dừng, số mệnh hoang đường này cũng không dừng.
Trong mắt đứa bé khổng lồ kia, à không, đúng ra phải nói là đứa bé khoảng hai ba tuổi kia, bàn tay nhỏ đang nắm lại bị sưng đỏ vì lạnh cóng, sau đó túm lấy Phù Tô.
Tuy rằng công ty Phù Tô rất ghét sự phiền toái, nhưng bản thân cũng là người kinh thao vĩ lược nắm vững binh pháp, chỉ cần có quyết tâm mạnh mẽ thì chắc chắn sẽ đạt được thành tựu. Thuở nhỏ chàng hờ hững, bằng lòng bình thản với mọi việc để rồi xảy ra hoàn cảnh long đong vô lực như ngày hôm nay. Vào giờ phúc này, chàng nhắm mắt – chờ chết. Bởi vì gặp một sinh vật dã man hồn nhiên thế này, dù dùng bất kì đạo lý binh pháp, thuật quyền mưu địa lý gì cũng vô dụng.
Chàng cảm thấy thật hoang đường, nở nụ cười lần cuối. Rốt cuộc, chàng không chết trong tay họ Thành, thôi thì cũng đã là may mắn, đối với chàng mà nói thì nhân từ lắm rồi.
Thế nhưng đứa trẻ vừa bẩn vừa nhỏ kia không có b*p ch*t mà nâng chàng bằng hai tay, đặt trên một cành mẫu đơn đã khô héo đang dần được nhuộm màu tịch dương, nằm trên đất nhìn chàng chăm chú.
Chàng đối diện với bé con. Chắc đây là đứa nhỏ mà nữ tử kia gọi là đồ tiện chủng. Nhìn bộ đồ tơ lụa em mặc trên người rách rưới, mặt, tay chân đầy vết thương là biết cuộc sống hồ đồ mà khốn khổ thế nào. Vườn hoa này héo khô, cả chim chóc cũng chưa từng ghé qua, vậy mà em lại lăn lộn dưới bùn ở nơi đây.
Đôi mắt trong veo sáng ngời nhìn chàng rất lâu. Chàng bị mất râu nên không nhận biết được phương hướng, nhất thời chẳng chạy trốn được. Đến khi bụng đứa nhỏ bắt đầu phát ra tiếng vang như sầm, Phù Tô nhìn ánh mắt em có vẻ thèm thuồng thì da đầu muốn run lên. Có cảm giác rung chấn từ xa truyền tới, chàng chưa kịp phản ứng thì đứa trẻ bé nhỏ này đã dùng tốc độ nhanh như chớp bỏ chàng vào miệng.
Cảm giác mềm mại và ẩm ướt vây lấy chàng khiến trong bụng Phù Tô quặn lên cảm giác buồn nôn.
Nhưng đứa trẻ không cắn chàng, chỉ phồng má lẳng lặng ngậm chàng trong miệng. Từ xa có tiếng đánh chửi ầm ĩ của một ả đàn bà vang tới, mụ ta xách đứa trẻ lên, giáng một cái tát trời đánh. Phù Tô cảm thấy bị chấn động dữ dội, nháy mắt, mùi máu tươi nồng nặc vây quanh bốn phía. Nhưng đứa bé kia vẫn mím chặt môi, ngậm chàng trong miệng.
“Thứ chết dẫm, mày lại gặm tro than bếp phải không, thứ lòng lang dạ sói này! Nhổ ra!” Mụ kéo cằm đứa bé lên nhưng em vẫn nhất định siết chặt răng, máu trong khoang miệng nhuộm đỏ cả thân Phù Tô.
Bàn chân to đùng của mụ dẫm xuống chiếc giày đầu hổ của đứa trẻ chưa từng được học nói, ngón chân bẩn đầy vết máu khô lại bị nhuộm máu tươi. Đứa bé con ngẩng cái đầu nhỏ ngây thơ, đau dớn rút chân về sau, nhìn mụ ta, mang theo hận ý mãnh liệt mà ngây ngô.
“Phản rồi à, ai cho mày nhìn tao như vậy?” Mụ giương móng tay sắc nhọn của mình ra, lạnh lùng nói, “Mày nhìn nữa, tao lấy que sắt nung mắt mày!”
Đứa bé cuộn tròn người, cắn chặt răng, không ngừng bò về phía trước.
Sau đó không còn tiếng động gì nữa.
Phù Tô không nghe thấy tiếng động gì nữa, thế giới của chàng đen thui, thiếu dưỡng khí, mọi giác quan đều bị bao phủ bởi mùi máu. Vào lúc chàng sắp hít thở không thông thì được một bàn tay nhỏ bé lạnh như băng lôi từ trong miệng ra.
Lại nhìn thấy cặp mắt vừa ngây thơ vừa hung hăng.
Hiện bọn họ đã đến một căn phòng. Trong phòng trống rỗng, chỉ có một cái giường có phủ tơ lụa gấm vóc – nhưng mà cũng giống như quần áo trên người đứa bé này, là mớ vải rách rưới cũ kĩ.
Đứa bé khạc ra ngụm máu. Dưới ánh trăng, hai bàn tay nhỏ đang cầm cái bánh bao đã khô quắt, ăn như chết đói đã lâu, cắp mặt dè dặt mà vẫn hung hăng nhìn Phù Tô chằm chằm.
Phù Tô không biết dế mèn có thể cười hay không, nhưng chàng đang cố cười thật, hơn nữa nụ cười này có phần đau khổ và mang ý mua vui.
Đứa bé móc một miếng bánh bao đã nhai để trước mặt dế mèn.
Phù Tô hiểu rồi. Em đang dùng cách nuôi một con mèo con để nuôi dế mèn.
Chàng cảm thấy ánh mắt của đứa trẻ này rất quen, như đã nhìn thấy ở đâu rồi.
Chàng vùi đầu ăn miếng bánh bao xù xì kia, vì đói khát, vì quá đau khổ. Đây là bài học mà nương tử đã khắc sâu nhất vào trong chàng lúc vẫn còn là người. Đó là chết kiểu nào cũng được, nhưng nhất định đừng để chết đói.
Em nhìn chàng, mãi đến buồn ngủ. Sau đó đứa trẻ đặt con dế mèn ở bên gối rồi ngủ thật say.
Phù Tô không tìm thấy phương hướng, bò trên giường của đứa trẻ này lâu, mãi khi sức cùng lực kiệt, tất cả mọi tu dưỡng đều biến thành áp lực sau tuyệt vọng.
Lúc mặt trời chiếu tới người chàng, Phù Tô mở mắt ra thì phát hiện mình không còn ở trên cái giường hẹp rách rưới nữa. Xung quanh là những sợi râu thô cứng, không đặt chân được xuống đâu.
“A! A!” Chàng nghe thấy tiếng kêu của đứa bé kia, gió vút qua bên cạnh Phù Tô. Mãi sau chàng mới phát hiện mình bị đứa trẻ đặt trên đầu.
Em mang theo ‘tân sủng’ quay về vương quốc của mình – vườn hoa héo khô. Em là vua của vườn hoa này, chinh phục tất cả mọi thứ, kể cả mấy chú côn trùng chẳng biết chui từ đâu ra.
Đứa bé này hung tàn mà kiêu ngạo, đứa bé quân lâm thiên hạ.
Em thích đi vòng vòng dưới tàng cây khô, thi thoảng hào hứng khoái chí thì bắt con dế trên đầu, siết chặt đong đưa. Mấy lần Phù Tô cảm thấy sắp chết tới nơi thì em thả lỏng tay, nhẹ nhàng đặt chàng lên đầu mình.
Phần lớn thời gian tiểu quốc quân không vui. Lúc tiểu quốc quân không vui thì sẽ chui vào trong bụi mẫu đơn và tường vi tàn úa đầy gai, mệt mỏi, nằm im lìm nhìn những người lớn đi lại ngoài vườn hoa.
Phù Tô rất buồn ngủ, chàng vừa mới híp mắt thì đã tuột xuống khỏi cái đầu trơn tuột của đứa trẻ.
Chàng té xuống đất là vì đứa bé kia cúi thấp đầu, thấp tới mức như muốn chìm trong bùn.
Bên ngoài tiểu vương quốc có hai nô bộc một nam một nữ đang hào hứng thảo luận về một tướng quân tên Mã Lăng.
Phù Tô biết hắn. Mã Lăng là một vị tướng quân cực kì dũng mãnh thiện chiến thời Đại Chiêu kiến quốc, nhưng theo sử sách ghi lại, cùng với danh tiếng bách chiến bách thắng, gã cũng là một kẻ có sở thích tàn nhẫn kì quái. Tương truyền năm đó điều kiện duy nhất khiến gã hàng phục Chiêu vương là muốn mỗi năm được ăn mặn ba lần, mỗi bữa ăn mặn là ăn một đứa trẻ, tốt nhất là không quá ba tuổi, da mướt thịt mềm, con gái là tốt nhất, mềm mà còn thơm.
Đương nhiên đây chỉ là tương truyền trong sách sử, không ai biết chân tướng thế nào.
“Hôm nay Mã tướng quân tới làm khách trong phủ, Điện hạ muốn chúng ta phải dốc sức chiêu đãi, thật khó xử quá đi. Phủ chúng ta có ai lại thích thứ hiếm dị như gã đâu chứ? Không tìm ra nổi vật dâng lên. Thời buổi rối ren, mỗi ngày trong thành đều có chứ không thiếu, nhưng miệng Mã tướng quân quý giá quá, không chịu ăn đồ chết rồi!”
“Sao lại không? Trong tay nô có một đứa kìa!” Phù Tô nhận ra, đây chính là giọng nói của ả đàn bà từng đánh đứa trẻ trước đây.
“Lâm nương tử, đừng nói giỡn! Thứ kia là cô nương mà cô cho bú sữa đấy, dù da dẻ non mềm, chưng lên thích hợp đấy nhưng nếu Đại nhân biết thì sẽ mang ta và cô làm thịt mất”
Mụ đàn bà được gọi là Lâm nương tử đưa mắt nhìn qua góc tối trong vườn hoa, ánh mắt cực kì ác độc và tàn nhẫn. Đứa bé cảm nhận được, núp sau cây run rẩy toàn thân. Em nâng con dế mèn nhỏ ở dưới đất lên, như một người bạn, một con thú cưng bé nhỏ. Phù Tô nhận thấy nỗi sợ hãi và sự bi thương sâu sắc trong mắt em mà ở tuổi này đáng lẽ ra không có. Sau đó, trước khi mụ đàn bà kia nói tiếp, em lại bỏ Phù Tô vào trong miệng.
Trong bóng tối ngột ngạt, Phù Tô cảm nhận được sự run rẩy của đứa bé. Đầu lưỡi em nóng, hàm răng va lập cập run rẩy nhưng miệng vẫn mím chặt, muốn bảo vệ con dế mèn Phù Tô ở nơi an toàn nhất trong cuộc đời bé nhỏ của mình.
Giọng nói của Lâm nương tử lại truyền đến, mụ cao giọng lớn tiếng, hướng về phía vườn hoa mà nói: “Nó mà là cô nương nhà ai chứ? Thứ sao Tang môn thì có! Gọi nó là cô nương, cô hỏi Điện hạ có nhận hay không! Hôm nay là sinh nhật Điện hạ, nó mà chết thì khách chủ đều vui ấy chứ!”
“Nương tử nhẫn tâm quá đây, tốt xấu gì cũng gọi bà một tiếng vú nuôi cơ mà! Dù sao cũng cho bú nửa năm trời, không nên như vậy chứ.”
“Nó sinh ra đời, vừa biết gọi mẹ là đã khắc chết người mẹ hạ lưu của mình rồi! Cho nó bú nửa năm, vận xui đến giờ vẫn còn ám trên trán đây này, vì nó mà phu quân ta bị sung quân! Nếu mà có ngày nó mở miệng nữa thì người chết là ta đó! Nếu hôm nay cô hầm nó thì cô được coi là ân nhân cứu mạng của ta rồi!”
“Nói thì dễ đó, nhưng dù sao cũng là mạng người, nếu nấu con ruột của cô, không biết cô khóc thành gì!” Người kia tặc lưỡi.
“Tiện nhân sinh ra nó mất rồi, không ở đây, chết rục rồi! Nó không có mẹ, ai khóc cho đâu! Chặt thành từng cục, xiên vào từng que, ném vào nồi dầu sôi, sướng quá đi chứ! Nó bị ăn từng miếng, xuống dưới âm tào địa phủ không gặp được mẹ ruột thì sao cáo trạng với ai được?” Lâm nương tử nghiến răng nghiến lợi, cặp mắt độc địa nhìn về sau cái cây.
Dế mèn Phù Tô đã thấy được ánh sáng, đứa bé đã mở miệng ra.
Chàng nhảy ra ngoài hướng về phía ánh sáng, xoay thân mình đen thui, vừa ngẩng đầu lên thì thấy đứa bé đang siết cỏ khô trong tay, dựa vào cây, đầu đầy mồ hôi, run rẩy há miệng, không phát ra tiếng động mà òa khóc. Nước mắt nước mũi đều chảy lem nhem trên khuôn mặt nhỏ xíu, nhìn đứa trẻ bẩn như vậy khiến Phù Tô, từ trước tới nay, lần đầu tiên trong đời lại cảm thấy đau xót vì một đứa trẻ không hề có quan hệ.
Chàng nhảy lên má đứa bé, cố gắng dùng thân mình chưa đứt đoạn để cố gắng thấm ướt nước mắt. Vị mặn của nước mắt khiến chàng cảm thấy còn khó chịu hơn cả mùi tanh của máu.
Phù Tô lại nhảy xuống mớ cỏ khô, đưa mắt nhìn. Ánh mắt của đứa trẻ này, chàng chắc chắn mình đã từng gặp rồi, nhưng từng gặp ở đâu? Trong lúc vô ý chàng đã từng nhìn thấy ánh mắt nhiều lần rồi.
Từ sáng tới khuya, đứa trẻ này vẫn trốn sau mớ cành khô và bụi tường vi. Em nằm sau gốc cây, lén nhìn về phía ngoài vườn hoa. Từ lúc sáng tới khi trời tối đen, vô số ngọn đèn lồng màu hồng được thị nữ bắt đầu thắp lên, dòng người qua lại, vô số thiếu nữ chải kiểu song kế chèo kéo quan lớn. Náo nhiệt tưng bừng cả một góc trời, tiên cảnh chốn nhân gian, là những cảnh Phù Tô chán ghét, từng phải nhìn thấy mỗi ngày.
Đứa trẻ kia lén nhìn trộm hết thảy, mãi tới khi Mã Lăng tướng quân trong truyền thuyết đến. Đó là một đại hán vừa qua tuổi ba mươi. Cơ bắp chân rất to lớn, được bó chặt trong giày, bước đi mạnh mẽ hùng hồn, con mắt hẹp dài mà hung ác, mũi lõ miệng hô, quai hàm bạnh.
Gã cao lắm, cao hơn tì nữ, thị vệ dẫn đường rất nhiều. Đối nhân xử thế l* m*ng vô lễ nhưng hành động cử chỉ nhanh nhẹn, không khác những gì sử sách ghi lại. Phù Tô cũng biết đại khái mình đang ở đâu. Chàng rơi vào chiến quốc thời cuối Tần đầu Chiêu. Lúc này chư vương hỗn loạn, tổ tiên chàng, Chiêu vương năm mươi tuổi mới khởi binh nhưng chỉ trong năm năm ngắn ngủi đã chiếm được nửa giang sơn. Mà ở Chiêu quốc bấy giờ, người được xưng là Điện hạ chỉ có một – đứa con nối dõi duy nhất của Chiêu vương, Hoa quốc Trưởng công chúa. Hiện đã cuối thu gần đây, nhân dịp thọ yến của Công chúa, tính thời gian thì đây là sự kiện nổi tiếng nhất trong ‘Chiêu truyện’, tứ sát cục.
Diễn viên chính là cháu ngoại duy nhất của Chiêu vương – Kiều quận quân bảy tuổi, và Mã Lăng tướng quân trong tay có hai mươi vạn quân tinh nhuệ. [Quận quân: Vốn là phong hào của nữ tử, bắt đầu từ thời Tây Hán được tiếp tục sử dụng tới thời Thanh. Truyện này để nam tử xưng là Quận quân, một vì đây là truyện giả tưởng, hai là muốn sử dụng làm xưng hô đặc thù cho Kiều Thực.]
Mã Lăng cầm binh cẩn thận, con người hung ác tàn nhẫn nhưng có mưu lược, tuy đầu quân Chiêu vương nhưng có lòng phản, xin được trấn thủ Tây quận chứ thật ra để thoát khỏi sự khống chế của Chiêu vương, mượn lực chư hầu tây phương rồi thuận thế nổi dậy. Chiêu vương đứng ngồi không yên, không kiên nhẫn, bày tam kế, định mượn thọ yến của công chúa để tiêu diệt Mã Lăng. Mã Lăng cáo ốm không đi, Chiêu vương bất đắc dĩ, phải lấy cớ rằng tiệc này chiêu đãi gã thì mới tiếp chỉ.
Trong tam kế đó, thứ nhất là chiếc lồng đèn bát giác trong tay thị nữ. Nến trong lồng đèn được thợ rèn tinh chế, sáp đèn cầy chứa độc, gặp lửa sẽ tỏa khí kịch độc. Tính kĩ đoạn đường này, khi tới đại điện thì thị nữ và Mã Lăng sẽ bị độc chết.
Tiếc là…
Mã Lăng dừng chân. Con dế mèn và đứa trẻ núp sau gốc cây đều nín thở. Giọng gã to, mất kiên nhẫn hỏi: “Vườn này trồng hoa gì thế? Mùi hương thật đáng ghét!”
Gã thô lỗ lấy tay quạt, sau đó không cẩn thận thổi tắt cây nến trong cái đèn lồng thị nữ đang xách.
Đèn tắt.
Mã Lăng có vẻ thô lỗ là vậy nhưng bản chất rất thông minh và cẩn thận. Gã đã sớm phát hiện cái đèn cầy trong lồng đèn này cháy nhanh hơn so với những loại khác.
Thì tỳ sợ hãi, quỳ xuống đất run rẩy nói: “Xin tướng quân thứ tội. Đây vốn là khu vườn mà Tiên phu nhân rất yêu quý, hoang phế đã lâu, vẫn chưa trồng gì.”
Mã Lăng cười ha hả, nói với người hầu ở sau: “Lại nhắc tới Tư Đồ đại nhân của chúng ta, dù sao cũng là một tên cặn bã tình thâm nghĩa trọng, tiếc là th* t*c không hiểu lễ nghĩa.”
Phía trước có một dàn đèn lồng đi tới nghênh đón.
“Ai đang ồn ào ở đó? Quấy rầy tiên mẫu đang thanh tịnh ở cửu tuyền?” Một giọng nói rất non nớt nhưng trong trẻo và lạnh lùng vang lên.
“Bẩm Quận quân, nô tài nhìn thấy ai như Mã tướng quân.” Một giọng nói eo éo vang lên, một tên thái giám.
“Ô kìa, tiểu Quận quân! Hôm nay có uống sữa chưa?” Mã Lăng khinh miệt đi lên trước, cúi người nhìn cậu bé mặc áo trắng, đeo noãn ngọc, vỗ tay, cười như hả hê lắm, xem ông cụ non này như một thứ đồ chơi gì đó rất thú vị.
Tám cái đèn lồng được giơ lên cao, cậu bé áo trắng, Quận quân Kiều Hà ngẩng đầu, liếc nhìn Mã Lăng, cúi đầu thong thả phân phó người xung quanh: “Truyền lệnh xuống, tướng quân Mã Lăng bất kính với ta, phạt hai mươi gậy.” Nói xong, thậm chí còn không buồn nhìn lên, một thân áo trắng nhẹ nhàng rời đi.
Mã Lăng sửng sốt, gần như là tức điên, tức giận quát mắng: “Thằng ranh, ăn gan trời, dám nói với ta như vậy!”
Gió lạnh thổi qua, tám ánh đèn lồng lung lay, trong ánh nến vàng ấm, Quận quân bảy tuổi từ từ quay đầu lại, dây cột màu trắng trên tóc bay lất phất qua mặt cậu, “Truyền lời bản quân, Tướng quân Mã Lăng gọi bản quân là thằng ranh, đại bất kính, niệm gã là người có công trong quân, xử lý nhẹ, phạt một trăm gậy.”
Cậu đưa mắt nhìn qua vườn hoa, dế mèn cũng nhìn thấy mặt cậu, có một cảm giác quen thuộc không nói được thành lời. Đứa trẻ nhìn thấy Kiều quận quân bỗng co người biến thành một quả cầu nhỏ, nhất định không dám ngẩng đầu nhìn xem.
Nhưng Kiều Hà đã nhìn thấy bọn họ, lập tức đi tới. Thái giám ở sau cậu vạt bụi tường vi, đứa trẻ vội vàng lùi ra sau, cái lưng gầy ốm đã cong vòng như một quả cầu.
“Nâng cằm nó lên.” Giọng nói của Kiều Hà bình thản, không hề giống một đứa trẻ.
Bàn tay bé nhỏ của em giãy dụa, bị thị vệ dư sức ép nâng cằm lên. Đứa trẻ này không được bổ sung dinh dưỡng, mặt mũi cực kì xấu xí, chỉ có đôi mắt còn có linh khí một chút nhưng chiều nay khóc đến sưng đỏ nên trông càng xấu.
“Soi đèn.” Kiều Hà vừa hạ lệnh, bảy tám ngọn đèn soi tới mặt của đứa trẻ. Em nao núng, rất bất an, lại muốn nhét con dế mèn Phù Tô vào miệng.
Tiếc là Phù Tô đã biết rõ ý định của em, chui vào bụi cỏ trong bóng tối, ở xa xa nhìn Kiều Hà và em.
“Xấu quá.” Kiều Hà tỉ mỉ ngắm đứa trẻ này một lúc lâu rồi mới nhẹ giọng nói, “Đi thôi.”
Đoàn người cao quý rời đi, đứa nhỏ ti tiện vẫn chưa được vận mệnh chiếu cố. Đứa trẻ vẫn phải lăn lộn trong bùn, nuôi con dế nhỏ, làm một quốc quân hung tàn trong vườn hoa nhỏ, một đứa trẻ câm điếc bị người lớn nói vài câu mà sợ tới mức sợ hãi lẩn trốn, không biết đâu là ngày đêm, chỉ sợ mình bị mang đi nấu.
Quả nhiên, đêm hôm đó Mã Lăng đã bị xử lý thành công. Phù Tô biết chuyện sau đó là gì.
Dựa theo những gì Chiêu vương dặn dò, Trưởng công chúa hạ độc trong rượu và thức ăn của Mã Lăng, đây là kế thứ hai. Tiếc là Mã Lăng quá cẩn thận, chỉ chịu uống rượu mình tự mang tới.
Kế thứ ba, vũ cơ mua vui, Trưởng công chúa đánh đàn, chúng thần chơi tửu lệnh. Lúc Mã Lăng rút lệnh bài sẽ bị dính độc trên ống, độc này gặp thủy sẽ hóa dược tính, tay đụng vào rượu thì độc cũng vào rượu, coi bộ tốn không ít tâm tư. Nhưng Mã Lăng mà chịu bị lừa? Từ lúc tay phải của gã chạm vào ống thì không dùng tay phải nâng chén rượu nữa, thế là kế này cũng thất bại.
Công chúa cau mày không vui, sau khi Chiêu vương uống quá ba tuần rượu, đành phải cho thái giám mang hai quyển ân chỉ tới: Thánh chỉ thứ nhất là chúc mừng sinh nhật con gái duy nhất và ban thưởng đất phong cho cháu ngoại; Thánh chỉ thứ hai là để Mã Lăng đi đóng quân ở Tây Quận.
Mã Lăng rất vui sướng, thả lỏng cảnh giác, định tiếp chỉ thì Quận quân Kiều Hà cắt ngang. Đầu tiên cậu chúc mừng ngày sinh nhật của mẫu thân, sau đó nhìn Mã Lăng, khóc lóc làm ầm lên nói Mã Lăng bất kính với mình, không chịu lĩnh hình.
Mã Lăng oán hận, chúng thần nhìn gã, đang định tiếp chỉ thì gã phải nhịn mọi chuyện xuống, trần tình lòng trung thành của mình đối với Chiêu hoàng thất có nhật nguyệt chứng giám, chấp nhận chịu một trăm hai mươi gậy phạt. Vất vả lắm mới đánh xong, gã nửa sống nửa chết cuối cùng mới có thể tiếp chỉ, Kiều Hà trở mặt rất nhanh, vui vẻ nói chúc mừng Mã Lăng, mắt tỏ ý cười, đưa tay đòi quà mừng.
Mã Lăng bất đắc dĩ, lấy một con tì hưu được khắc bằng ngọc màu trắng, kính cẩn dâng hai tay cho Kiều Hà. Kiều Hà rất lại, v**t v* qua lại, cứ như cực kì thích món đồ này. Cậu nhìn thấy bụng tỳ hưu có vết tì, hà hơi định lau thì bỗng phun máu đen, ngã xuống đất, giọng nói nặng nề gào lên ba lần ‘Mã tướng quân độc hại bản quân’ rồi lập tức ngất đi.
Mã Lăng chưa tiếp chỉ đã dính phải thanh danh mưu hại hoàng thất rồi bị tống vào lao ngục. Thuộc cấp Mã Lăng không phục, nói Chiêu vương hãm hại, tìm tới vài vị chư hầu đức cao vọng trọng ở phương tây và phương bắc để xin chủ trì công đạo. Chiêu vương rộng lượng, bảo các chư hầu phải tra xét kĩ càng. Ai ngờ tra ra ngón tay phải của Mã Lăng có giấu độc, cho rằng Mã Lăng rắp tâm hại người, giấu độc là vì muốn tìm cơ hội hạ độc Trưởng công chúa, cuối cùng vì kết oán với Quận quân nên lại mưu hại tiểu Quận quân. Nếu độc này không dính nước sẽ không phát huy, người bình thường không thể nhận ra. Nếu tiểu Quân quân lúc đó không hà hơi, hơi nước đính trên con tì hưu, sau đó gặp nước cũng sẽ bỏ mình thì Mã Lăng kia có thể thoát khỏi liên can. Người này dụng tâm sao mà giả dối ngoan độc thế! Đáng ra nên bêu đầu!
Đại ác nhân như thế, trong khi dân phong Chiêu nhân rất thuần phác nên ai cũng căm hận, thủ hạ tướng lãnh bên dưới lập tức tranh cãi, tan rã như chiếc thuyền cát, bản thân lại thuần phục Chiêu vương nên không làm trò trống gì. Ngày hành hình, nước bọt của thế nhân gần như đã đủ nhấn chìm vị tướng một đời tung hoành ngang dọc. Trước khi chết, Mã Lăng hướng về diện Chiêu vương, cười ha ha ha ba tiếng, nói: “Oan uổng cho tiểu nhân Mã Lăng, mười ba năm sau, thiên hạ Thành thị chắc chắn sẽ đổi họ! Có kế này có tâm phúc thế này, cần chi Lăng mưu phản?!”
Lúc gã nói những lời này thì tiểu Quân quân bị nhiễm độc vẫn còn đang hôn mê trên giường, khi tỉnh lại đã chuyện một tháng sau.
Ngày càng giá rét, con dế mèn Phù Tô càng lúc càng suy yếu. Chàng biết mình sắp chết. Lúc còn làm người, vì ràng buộc danh lợi, chết là lúc cực kì không cam tâm, nhưng khi biến thành con dế mèn nho nhỏ, cuộc đời ngắn ngủi là thế, nhưng mỗi ngày đều cảm thấy vui vẻ vô âu.
Chàng bình sinh không nói hai chữ ‘yêu thích’ bao giờ, với bất kì vạn vật, ‘có chút hứng thú’ đã là hiếm lắm rồi, vậy mà trong lòng lại cảm thấy thân thương yêu quý đứa bé không biết nói trước mặt rất nhiều, bản thân chàng cũng chẳng hiểu vì sao. Chàng coi em như con như cháu, cứ cảm thấy sinh mệnh ương ngạnh đáng thương như vậy mà vẫn còn sống, như đang hòa điệu với sự níu kéo sinh mệnh hèn mọn hoang đường của Phù Tô.
Chàng vẫn chẳng biết tại sao mình lại tới đây, nhưng khi tiểu quân của vườn hoa ngày ngày đặt chàng trên đầu, cùng ăn cùng ngủ cùng chơi đùa, lúc gặp nguy hiểm lại cho chàng vào miệng, khi chàng dùng một âm điệu và cất giọng kì quái hát một câu trong Kinh thi cho em nghe, khi chàng không có râu không tìm được phương hướng chỉ có thể vĩnh viễn ở bên cạnh em, thì mới cảm thấy chỉ có đứa trẻ như vậy mới thân thiết mới quan tâm, mới yêu thích chàng, chỉ có em mới hoàn toàn thuộc về Phù Tô. Đó là những cảm giác mà chàng vĩnh viễn không thể tìm thấy từ cha mẹ, thê tử, huynh đệ hay bất kì người nào.
Chàng đã tìm được một người như vậy rồi.
Chàng đoán rằng, có lẽ con dế mèn này là kiếp trước của mình mà chàng không hay biết.
Thế nhưng, con dế bé nhỏ gầy yếu này không chịu nổi ngày đông. Chàng sắp chết rồi, để lại đứa trẻ này tiếp tục sống những ngày tạm bợ cực khổ. Nhưng mà, điều mà chàng e ngại chẳng sợ dế mèn phải chia li sinh li tử biệt cùng một đứa trẻ, mà vì chàng không biết ngày sau ra sao, liệu em có sống tới ngày họ được gặp lại nhau hay không. Chàng quá hiểu, chàng biết rằng sẽ có một ngày đứa trẻ này sẽ bị vận mệnh chà đạp rồi chết đi, mà ngày ấy chẳng cách xa ngày chàng sẽ chết.
Chàng không muốn em lại chết đi như vậy, cũng như chàng đã từng đau khổ tìm cách giữ lại sinh mệnh của mẫu thân, để rồi phải thất bại.
Đào được một miếng trúc sắp phân hủy trong góc vườn hoa, ngày nào chàng cũng bò qua bò lại một ngàn lần, mãi đến khi miếng trúc thô ráp sần sùi đã được mài nhẵn. Buổi sáng, đứa trẻ sẽ đi vào bếp mót chút canh thừa thịt nguội, chàng đi theo em, vất vả lắm moi móc được chút vụn than trong bếp. Phải lâu lắm mới đủ vụn than chàng cần. Con dế mèn dùng hàm răng dính than cắn miếng trúc, mãi đến khi cả hàm răng rụng hết thì vết cắn lẫn than đen mới khắc sâu vào miếng trúc.
Đứa trẻ cực kì yêu thích miếng trúc mà con dế mèn chật vật kéo tới, em cầm giữ miếng trúc trong lòng bàn tay, lúc ngủ cũng siết thật chặt.
Cuối cùng Quận quân Kiều Hà cũng tỉnh lại. Dư độc trong cơ thể cậu không thể bị loại bỏ hoàn toàn, Trưởng công chúa thương con tha thiết, ngày ngày lấy nước mắt rửa mặt, tìm danh y khắp nơi mà vẫn không có thu hoạch gì. Độc ngày đó dùng với Mã Lăng là loại kịch độc không thuốc giải, Kiều Hà thông minh tột đỉnh, chỉ hà hơi, dính phải một chút chứ không tới nỗi bỏ mạng nhưng từ đó về sau không chịu được thời tiết thay đổi bốn mùa, rốt cuộc vẫn là hại tới cơ thể.
Mùa đông năm đó, Kiều Hà không chịu được rét, địa long trong điện cậu vẫn cháy rất vượng, tẩm điện thư phòng đều đặt bảy tám chậu sưởi nhưng vẫn không thể nào át nổi sự lạnh buốt.
Ngày đông chí, tiểu Quận quân lại ói ra máu.
Mấy ngày này lạnh cực kì, đứa bé kia lại tìm được một cái áo mỏng. Áo này do người mẹ đã mất sớm của em may cho, mặc cho em vào ngày sinh nhật thứ nhất. Tháng ba năm sau thì đứa trẻ này sẽ tròn ba tuổi, cái áo này đã nhỏ lắm rồi, em chỉ có thể cố gắng kéo phanh nó để miễn cưỡng mặc.
Em không sợ mùa đông, cũng chẳng sợ lạnh nhưng vào đông cũng chẳng chạy lung tung đi đâu được, chỉ lẩn quẩn dưới tàng cây hoặc ở trong phòng, ấp Phù Tô trong tay, hà hơi sưởi ấm cho chàng.
Em biết con dể mèn này đang cứng dần, em cũng biết hai con mắt dễ thương của dế dần mất đi thần thái.
Nhưng em không biết rằng, dế sẽ chết.
Ngày đông chí thứ hai, hình như trời có ấm hơn. Kiều Hà ngồi dậy, ho một tràng, môi trắng bệch. Trên đầu giường chàng có một con dế nhỏ.
Râu con dế ngắn lắm, hình như từng bị bứt, bây giờ mới mọc ra lại.
Cậu nhìn con dế kia rồi gọi thị tỳ. Thị tỳ dọn dẹp con dế đi.
Thế nhưng lại chẳng bao lâu, con dế với cọng râu ngắn ngủn lại xuất hiện trên bàn đọc sách của Kiều Hà. Cậu bé thanh tú dị thường nhưng khí sắc rất kèm đang ngồi đoan chính khắc chữ trên chiếu. Miếng noãn ngọc treo ở thắt lưng cậu cũng từ từ chìm trong sương mù của lò hương.
Con dế mèn bỗng lao mạnh vào tay Kiều Hà, tay cậu đau nhói, rớt cây đao khắc xuống. Con dế mèn nhỏ nhìn quyển sách, cố gắng đọc nhanh, thế nhưng ánh mắt Kiều Hà lại lạnh lùng lấy một chiếc khăn tay trắng bốc con dế lên ném ra ngoài.
Nó bị gãy một chân. Lúc tới được bên cạnh Kiều Hà thì tiểu Quận quân đã phát hiện có gì đó không đúng.
Cậu nhìn con dế mèn vất vả bò lên bàn, từ quyển sách mà cậu đang khắc, nó cũng theo đó chật vật khắc một chữ khác lên. Nó tự cắn đứt một tay của mình, trên đó có rất ít máu. Máu này dính lên chữ. Kiều Hà nhìn lạnh lùng, bàn tay như ngọc trắng xuất hiện di theo những chữ có dính máu con dế mèn. Đó là bốn chữ: “Thực Kiều cứu Quân.”
Con dế mèn đã sức cùng lực kiệt, toàn thân đau nhức, nằm cứng đờ trên quyển sách. Nó tưởng rằng mình chỉ cần tốn thêm chút sức nữa là có thể tìm những chữ này trong sách để dẫn dụ Kiều Hà nhìn theo, tiếc là…
Phải theo ý trời.
Mắt nó tối sầm nhìn bóng dáng Kiều Hà một thân áo trắng, khoác áo lông chồn trắng xa dần, lần đầu tiên nở nụ cười. Tuy rằng dế mèn cười lên trông cực kì xấu xí, nhưng lúc này nó mới hiểu, khuôn mặt không có biểu cảm cũng chẳng thể che giấu tất cả cảm xúc này. Sự tò mò, ngây thơ, sự vui vẻ, thiện lương, là những thứ mà vẻ lạnh băng kia không thể che giấu được.
Phù Tô cũng thế.
Chàng nhớ tới khuôn mặt nhỏ nhắn mềm mại và cặp mắt hung dữ với vẻ nhát gan ẩn sâu, cả đời này, kể cả kiếp trước, rồi chẳng còn ai đáng để chàng dùng hết tấm chân tình này trả giá nữa.
Con dế mèn khốn khổ dùng một tay một chân bỏ tới bên cạnh đứa trẻ của nó. Đó là một đứa bé không biết nói. Bọn họ không cần trao đổi, bọn họ thường trao đổi rồi.
Chàng bò lại tàng cây già kia. Trên cành cây cao vẫn còn treo vài quả lựu tét vỏ đã khô rốc. Không ai thèm hái, cũng chẳng ai buồn chặt bỏ. Đây là một gốc lựu, cũng là cây mà mẹ đứa bé đã trồng.
Đứa bé úp mặt vào thân cây sắp chết dưới ánh mặt trời ngày đông, tựa như đang cười với cái cây đang ngủ. Em chu miệng nho nhỏ, gương mặt bé xíu mềm mại vẫn còn ửng hồng. Phù Tô cẩn thận nhảy vào miệng em, ngủ theo.
Tay em vẫn còn nắm chặt miếng trúc mà chàng đưa cho.
Kiều Quận quân không tìm thấy Thực Kiều. Cậu đã tìm rất lâu nhưng chẳng ai tên Thực Kiều cả. Ngày đông kiều thụ (*có nghĩa là cây cao) chết rất nhiều, thực vật nào cũng không sống nổi, không cứu nổi cậu.
Mỗi ngày tiểu Quận quân đều phải chịu nỗi đau đớn của hàn độc, không thể kiềm chế.
Bình ổn ba năm, những chư hầu còn sót lại ở hai phương tây và bắc cuối cùng cũng lần lượt quy thuận Đại Chiêu sau cái chết của Mã Lăng. Năm đó, sau ngày Đông chí mười ngày, tuyết rơi.
Trong phủ Thái úy, tiếng khóc tê tâm liệt phế truyền tới từ một góc xó trong vườn.
Đó là một đứa trẻ ăn mặc rách rưới, nằm trong bùn, liên tục đập đầu vào cây lựu. Em đau khổ như vậy, cứ khóc suốt như thế, chẳng biết phải làm sao mới kiềm nén được.
Con dế mèn của em chết rồi. Nó đã lạnh ngắt, em ngậm nó trong miệng mà vẫn không cứu được.
Không ai biết thiên ý là thế này, đây chính là thiên ý. Ngày hôm đó, Kiều Quận quân lại đi tới vườn hoa nhỏ đó.
Cậu bế đứa bé. Đứa bé này rất ấm, cực kì hợp ý cậu.
Đứa bé há mồm cắn tay cậu.
Con dế mèn theo đó mà rớt ra từ trong miệng em.
Nước mắt em đều rơi xuống hết ngón tay lạnh lẽo đang giam cầm mình.
Mùa đông như dần tan.
Cậu nâng cằm đứa bé lên hỏi, “Ngươi tên là gì?”
Đứa bé vẫn khóc.
Bàn tay sưng tấy cứ đánh vào kẻ xâm lăng trước mặt. Kẻ xâm lăng vào vương quốc của em.
Kẻ xâm lăng nhìn thấy miếng trúc trong tay em
Cậu rút ra.
Đó là hai chữ triện được khắc cực kì cân đối và tốn sức.
Quận quân Kiều Hà nhìn đứa bé lạnh lùng, hồi lâu sau mới nói: “Gọi tên của ta. Nếu muội có thể gọi thì ta sẽ nuôi muội.”
Đứa bé nhìn tuyết rơi phủ lên người con dế, hồi sau dụi đầu trong khuỷu tay Kiều Hà, rơi nước mắt. Giọt nước mắt kia nóng hổi, làm tan chảy tuyết trên thân con dế.
“Nhị ca.” Giọng đứa bé khàn khàn, tuyết rơi trắng xóa, con ngươi không có tiêu điểm, phải thật lâu mới mở miệng. Em khắc chết mẹ, nên dù có biết nói cũng không chịu mở miệng.
Khuôn mặt của Kiều Quận quân giãn ra, không chê em bẩn, siết vòng tay ôm đứa bé này, nhàn nhạt nói: “Đi thôi.”
Chiếc giày trắng tinh đạp lên xác con dế mèn nhỏ. Chàng xoay lưng nhìn một mảnh trời trắng xóa, rốt cuộc cây lựu kia cũng không chống chọi nổi, cành lá héo khô. Có lẽ lúc tháng chín nó cũng từng đơm hoa kết quả đỏ rực nhưng bây giờ chỉ trong nháy mắt, lại hòa vào màn tuyết trắng, bị tuyết phủ nhòe đi hình dạng đã từng.
Lúc dế mèn Phù Tô chết đi đã thấy được tuyết của ba trăm năm trước. Chàng cứng đờ, đau đớn, chịu mọi sự tra tấn, không thể chính miệng nói lời cáo biệt cùng bé gái của mình, là đứa bé chàng đã đặt một cái tên rất hay, cực kì đoan trang, khắc vào miếng trúc.
Chàng gọi em là ‘Kiều Thực’ (*乔植).
Nếu hỏi vì sao lại trồng cây, ấy vì nếu cây được chăm sóc, sẽ có thể che trời. (*Kiều mộc thành Thực khả tham thiên. – 乔木成植可参天)
Sống hay chết, chẳng qua chỉ một cái chớp mắt. Thế nhưng không gặp, thì sẽ không gặp nữa.
Quả đỏ vì có lá xanh, cũng như phong lưu dừng cũng do lưu phong (*phong tục từ xưa) bắt đầu.
Những gì trong sách đều không phải giả.
Tới khi chàng tỉnh lại, Chương tam cũng tỉnh, đôi mắt của Kiều Thực.
Mái tóc của Hoàng Tứ vẫn còn lềnh bềnh trong ao.
Kể từ ngày ấy, Phù Tô đối xử với thiếu niên Chương tam tốt hơn nhiều, thật tâm thật ý trở thành một người huynh trưởng. Hoàng tứ lang vẫn chọc người khác không thích, cướp thịt trong chén Phù Tô, không thèm nhìn liền há to mồm nuốt nhồm nhoàm. Cuộc sống của bốn anh em cứ vậy ngày qua ngày, trêu đùa chọc ghẹo thì bình thường, còn lúc cãi nhau luận chuyện thì cứ như tiểu chư hầu bốn phương đang cắt cứ ranh giới, không ai nhường ai.
Một ngày nọ thầy giáo cười hỏi: “Sau này các con muốn làm gì?”
Chương tam lang hếch mũi lên: “Con muốn được làm quan, quan lớn!”
“Lớn chừng nào?”
“Trừ Hoàng đế thì quan nào lớn nhất?”
“Tam công đó.”
“Trong Tam công có thể có Đại tướng quân trung thành vũ dũng, xích huyết đại tràng không?”
“Hai Tể tướng một Tướng quân.”
“Nếu thế thì con miễn cưỡng làm Tam công vậy.”
Chương thiếu niên giàu sức sống, ríu ra ríu rít. Hoàng tứ lại buồn ngủ, gió xuân thổi đỏ cánh hoa cả đêm, bay lả tả vào trong tay áo cậu. Phu tử có ý mới, cười bảo: “Các con xem,Tứ lang đẹp như tranh thế kia. Nếu ai vẽ đẹp, cơm trưa hôm nay sẽ nói sư mẫu thưởng cho người đó hai lượng thịt nướng và một bầu rượu.”
Phù Tô và Yến nhị chưa mắt nhìn nhau, tia lửa điện chớp lóe, một người cúi đầu vẩy mực (*ý nói vẽ tranh thủy mặc), người thong thả vẽ theo lối bạch miêu. Các tiểu thư sinh đã tới viện được hai năm, cao hơn nhiều, mặc hồ sam, thân thể như ngọc, quả rất nho nhã, chỉ vài câu cũng khó hình dung. Xuân phong thấm vào ruột gan, Tôn phu tử nghĩ tới hai chữ ‘Tam công’, động lòng, lần bế sơn chuyên tâm dạy học ba năm, không phải không có Tam công chi tài.
Điều bất ngờ là Chương thiếu niên vốn trước nay quê mùa lại thắng chúng sinh. Kỹ pháp của Phù Tô và Yến nhị cao hơn người khác một bậc, nhưng trong mắt bọn họ, Hoàng tứ đệ luôn mang một khuôn mặt vô lại, vẽ thế nào cũng chẳng thích nổi, ngược lại, lại làm nổi bật cảnh hoa đào trông rất đẹp, nền át chủ.
Tranh được đưa tới hậu viên, Hằng Xuân mơ hồ nói: “Chắc là Chương sư huynh yêu Tứ lang lắm đây, nên mới có thể họa cậu ta trông dịu dàng, đẹp đẽ đến vậy.”
Tôn phu tử và Tôn sư nương nhìn nhau, trầm mặc hồi lâu, phu tử lạnh nhạt nói: “Có thể thấy Chương tam còn rất bí ẩn, chẳng biết sao lúc đó Bệ hạ lại hạ chỉ để nó đi học ở đây.”
Tôn sư nương bẻ một nhành hoa đào, khẽ cài vào tóc mai Hằng Xuân cười bảo: “Con người ai cũng thay đổi, tướng công. Khi tự do, lúc thiếu thời, ai mà không dám hướng trời trộm lấy ngày. Chúng ta đâu cần nhỏ nhen như vậy.”
Chương tam được thưởng hai lượng thịt và một bầu rượu, bốn huynh đệ đều có phần, đỡ thèm. Hoàng tứ dịu dàng vừa ăn vừa than trách: “Sao thịt này chả có mùi vị gì cả?”
Cậu xưa nay có một tật xấu, có lẽ do ngày bé khi gia cảnh chưa suy tàn mà thành, nuôi ra lưỡi rất kén ăn, ăn gì cũng thấy vô vị.
Chương thiếu niên không nói chen, trước nay ăn một mình quen rồi, không hề vội vàng, cuối cùng cũng nuốt miếng thịt cuối cùng. Hoàng tứ nhướn mi, dịu dàng hỏi: “Tam ca, thịt đổi được sau khi bán đứng nhan sắc đệ có ngon ngọt hay không?”
Yến nhị nghiêm mặt trách: “Đệ không phải con nít, mà bạ đâu nằm ngồi đó, nói năng ngông cuồng, ngày ngày biếng nhác, may có phu tử khoan dung độ lượng, nếu không hôm nay đệ có rượu thịt này à?”
Hoàng tứ mỉm cười: “Nhị ca, nếu sau này có người chịu gả cho huynh, ta sẽ kiếm cho chị dâu đủ mười dặm hồng trang.”
Miệng đứa bé này tiện quá là tiện.
Phù Tô nhìn Chương tam tranh cãi vô ích, Yến nhị ho khan, thần thanh khí sảng, Hoàng tứ lại đánh mắt tỏ ra chân thành: “Đương nhiên, đại ca có thể lấy được một người con gái như đại tẩu búp bê vải hiền lành mỹ mạo, hiểu rõ lòng người thế này, ắt cũng nhờ công đức tám đời của tổ tiên nhà huynh.”
Cái đồ chết tiệt!
***
Đến tiết Đoan ngọ, Bình vương thế tử đại diện Bình vương đi tới thăm hỏi các học trò trên núi, phát cho mỗi người chút bánh và thịt khô. Đường huynh A Vân ở Thanh Hằng xa xôi cũng vừa vặn theo thư của Hề Sơn quân mà đến, đều là mấy câu chuyện vụn vặt, nào là trời mây mù mưa giông khiến xương bả vai cứ đau âm ỉ, nào là cha hắn Trịnh vương tới giờ vẫn dán mặt hắn tứ phía để truy nã, cuộc sống cứ thế mà trôi, mọi việc vẫn vậy. Phù Tô lâu ngày không gặp đường đệ của mình, lúc được hắn phát cho miếng thịt khô, vẫn đang mặc một thân hoa phục kim quan, tay phe phẩy quạt họa cảnh núi sông. Điều này khiến chàng thiếu niên lãnh đạm, lòng sâu hơn bất kì chỗ nào bỗng có phần ghen tị,, nháy mắt cảm thấy thân phận có là gì, có mẹ để dựa vào có là gì, có cha để dựa vào mới đáng tin nhất.
A Cửu không nhận ra chàng. Nhìn cái độ cung khóe miệng là biết.
Trong các vương tử thì Bình vương thế tử thứ chín (*cửu).
Cơ Cốc, à không, lúc Phù Tô nhận thịt khô, nhìn Bình vương thế tử một cái. Chàng cảm thấy trong mắt mình có rất nhiều điều nhắn nhủ, thế nhưng Bình vương thế tử nhìn thấy lại có cảm giác – úi trời, mắt người này đen thế.
Thế nên, hễ mà có sự kiện hiểu sai ý này xảy ra thì cực kì hiệu quả trong việc việc thúc đẩy tình tiết phát triển.
Thế tử phát bánh ú và thịt xong, nói mấy câu, đại điện Bình vương để biểu đạt rằng mình rất thân thiện với các học trò, hi vọng các sĩ tử sau này sẽ có tiền đồ, mong rằng trong kì thi năm nay, các học trò có thể tay đấm Mục Sở, chân đạp Trịnh Ngụy, xưng hùng bá trên bảng công danh, dương oai cho Bình quốc.
Tính ra thì ngày thi cũng còn chưa tới hai năm. Mà quan trọng là sắp có thi Quận rồi.
Bình vương thế tử diễn thuyết, nói cho mọi người nhưng bản thân lại nhiệt huyết phun trào. Hắn mỉm cười đứng thẳng, ngọc thụ lâm phong, thiếu vài phần áo lụa quần là nhưng mang cảm giác nho nhã thân thiết nhiều hơn.
Bỗng nhiên như vừa nhớ tới gì đó, hắn lại hỏi thêm: “Bản điện có nghe đâu tôn sư nương vừa thu nhận một nữ đệ tử phải không?”
Tôn sư nương đáp quả có việc này, bà vốn nghĩ Hằng Xuân còn nhỏ tuổi, lệnh Hằng Xuân mặc một bộ quần áo thư sinh tới tạ ơn. Tiểu cô nương cung kính rồi hành lễ, trên bả vai có một con chim màu tím nho nhỏ đang đậu, con chim nhỏ kia có ánh nhìn thù hằn như chim ưng, hướng về phía Bình vương thế tử.
Bình vương thế tử mỉm cười, thu quạt về, bóp con chim trong tay, hờ hững nói: “Con chim này không tệ. Hằng Xuân cô nương, vào tiệc năm mới Thái Thú phu nhân có mang ngươi tiến cung, bái kiến mẫu phi. Lúc đó chưa có con chim nhỏ này.”
Hằng Xuân sửng sờ một chút, chỉnh lại mũ, đáp: “Thế tử điện hạ có trí nhớ tốt quá. Con chim này mới có năm nay. Chỉ là,… chỉ là, có cô nương nhà nào lại dám lỗ mang tiến cung mà vẫn mang theo con chim này theo?”
Bình vương thế tử cười một tiếng, trả chim cho cô, sau đó mang người rời đi.
Mắt Phù Tô đen láy lặng lẽ nhìn con chim oanh màu tím (*tử oanh), chàng không nhịn được, chọc một cọng lông đuôi nó. Con chim nhỏ màu tím, trên sách không nhắc tới. Nhưng cái chọc kia khiến con chim xù lông, hung hăng quay người mổ vào tay Phù Tô một cái. Chương Cam ở cạnh hơi chột dạ vẫn luôn che mặt, sợ bị mọt sách Hằng Xuân nhận ra. Tiếc là Hằng Xuân ôm con chim, hành lễ ra mắt với các vị sư huynh rồi cúi đầu về hậu viện. Trước khi đi cô có xoay người nhìn Yến nhị một cái, cong mắt cười lấy lòng, cúi người chào, bày tỏ lòng biết ơn, sau đó xoay người nhưng lại cùng chim đụng vào một cành khô.
Các vị sư huynh phá ra cười ầm lên, mọt sách xoa mũi, xoay người rưng rưng thi lễ các vị sư huynh cái nữa, sau đó mới cùng con chim rời đi.
Năm nay Hằng Xuân khoảng chừng mười một mười hai tuổi, là một tiểu cô nương đủ tiêu chuẩn, lễ độ như một lão nho sĩ bảo thủ. Đại Chiêu trọng Đạo giáo nên nói người khác giống nho sĩ thì không phải khen đâu. Có điều, mâu thuẫn nằm ở đây, quan gia đề xướng Đạo giáo, nhưng Đạo giáo lại không thể được dùng là quy chuẩn để sát hạch quan viên trong khoa cử, chẳng lẽ đòi phiên dịch ‘Đạo đức kinh’, sẵn tiện nghiên cứu con bướm mà Trang Tử biến thành thuộc giống gì sao? Điển tịch thì quá ít, quá lãng mạn, để chú giải thành đạo trị quốc rồi liên hệ với chủ nghĩa Đạo giáo Đại Chiêu thì quá là khó khăn. Trị quốc không thể dựa vào sự lãng mạn, những kẻ dựa vào lãng mạn chính là đám ngu ngốc như Hạ Kiệt, Thương Trụ, Chu U! Thế nên dù nho giáo bị chê là câu nợ bảo thủ nhưng lại bao hàm rất nhiều chú giải đương thời, được dùng để tổ chức thi cử khảo hạch đề tài, thế là chúng sinh vẫn phải nghiên cứu học hành. Trong quá trình đó, không ít các học giả quan viên trở nên yêu thích, muốn dành cả đời để nghiên cứu Nho giáo. Hiện tại trên triều, ngoại trừ tranh giành vây cánh, cán cân quyền lực giữa các nước thì tranh cãi giữa Nho-Đạo là lớn nhất.
Quay lại về bốn người kết nghĩa huynh đệ này, Cơ Cốc đọc sách rất tạp, không Đạo không Nho. Chương tam cũng không Đạo không Nho như vậy, vì Tam công tử là con nhà võ chuyên chém người. Còn Hoàng tứ thì thấy rõ theo Nho giáo, mõi hành động cử chỉ đều nhất nhất đi theo khuôn mẫu Khổng thánh. Phần Yến nhị, từ mười tuổi đã bất ngờ trở thành phán quan âm phủ, muốn vào Nho gia cũng không được, là một sĩ tử theo Đạo giáo chính tông, tôn thờ thiên nhiên, chỉ là hôm nay gặp Hằng Xuân như vậy thì cảm thấy thú vị, khuôn mặt luôn âm trầm lạnh lùng bất ngờ có phần vui vẻ.
***
Trời nóng dần. Tan học mỗi ngày, sau khi Tôn phu tử sẽ chui về hậu viện thì các học trò không thèm cố kị giữ hình tượng gì nữa. Bình địa có một tập tục là ăn dưa hấu xong không được bỏ vỏ, giữ để lau chùi thì được ba năm tốt lành. Học trò Bình địa miệng to như thau, sau khi gặm sạch sẽ phần thịt đỏ, hạt đen, thì sẽ giữ vỏ đi lau mồ hôi lau mặt, ném vỏ, bùm một tiếng, nhảy thẳng xuống sông, giải nhiệt bớt nóng tẩy bụi trần, khiến đám học trò các nước khác ngẩn tò te không hiểu chuyện gì. Giữa người với người luôn có hiệu ứng đám đông, tuy phần lớn có mấy đệ tử thế gia, nhưng hiện cụ ông bà già luôn ôm lễ nghi mắt mang phong ấn không ở đây, còn ai kiên nhẫn tuân thủ những lễ nghi phiền phức kia nữa. Hơn nữa, ở đây toàn một đám tiểu tử mười tám mười chín tuổi, cả đám cười khúc khích cầm vỏ dưa chà lên mặt, chà xong dùng để tắm, lấy té nước nhau cũng vui.
Thế nhưng chuyện này đã làm khó Chương tam công tử trước nay vốn luôn tùy tiện. Cậu luôn không tắm cùng mọi người. Mấy ngày nay, trên người Chương thiếu niên bị té chỗ xanh chỗ tím, khuôn mặt như thiên tiên ngày nào nay đen như chỗ than xỉ mà Hoàng tứ cậu hay giúp ngã vào. Mọi người ân cần hỏi thăm cậu bị sao, ban đầu không nói, sau đó dùng một nắm đấm đập xuống quả dưa hấu mới mua, cầm một miếng lớn nhất nứt ra lên gặm, mắt sáng trưng như nửa vầng trăng, hung hăng nhìn mọi người. Cuối cùng, mọi người thấy biểu cảm sư đệ kì dị quá, sờ mũi rồi giải tán hết, chỉ còn Hoàng tứ, Cơ Cốc ngồi xổm bên cạnh, lịch lãm nhưng nhanh nhẹn nhặt mấy miếng dưa hấu mà ăn, hai người ăn mà thấy hân hoan, như thể vừa gặp được cha mẹ trong nhà, phấn khởi lắm.
Chương thiếu niên cảm thấy không hài lòng với mọi việc trong trường, càng ngày càng nóng nảy. Tháng mười là ngày thi Quận kì này, nhưng vì trúng đợt tang nên bị dời tới giữa tháng mười một. Tôn phu tử sống ở núi Xương Hoằng nằm giáp ranh Đông quận và Kim Ô, nhưng bị tính là Đông quận, muốn vào quận đô mấy cũng phải ba ngày. Tháng mười, nửa nhóm học trò đã chuẩn bị xong xuôi, kết giao cùng đi. Chương tam công tử vốn không muốn đi, phụ thân cho phép nàng được cải nam trang đã miễn cưỡng lắm rồi, nay nàng mượn tên tuổi của Chương gia đi thi, nhỡ đâu bị phụ thân phát hiện trong đám học trò có ‘con trai’ của mình thì không biết sẽ giận tới mức nào.
Nhưng nghĩ tới nghĩ lui cũng không biết từ chối thế nào, mọi người tới chỗ Tôn phu tử đâu để làm gì khác ngoài tìm kiếm công canh, nếu nàng không đi thì sẽ gây nghi ngờ lắm. Cuối tháng mười là bài cưỡi ngựa bắn cung cuối cùng trong chương trình học, cô nhóc này lại nghĩ ra một ý xấu. Làm theo những gì phu tử sắp xếp, ngựa được cung cấp cho trường đều đã trưởng thành, khoảng cách cung tên cũng xa gấp đôi, mục tiêu trên bia biến thành kiểm soát kéo dây. Nhưng chuyện này cũng không thể làm khó Tam công tử. Từ nhỏ nàng đã lớn lên trong quân doanh, rèn luyện công phu trên người rất tốt, nhưng trước mắt cũng đành chịu thôi, đám học trò ở sau cây thay nhau kéo bia, nhãn lực Chương tam tốt, người kéo bia đầu tiên là Hoàng tứ, thấy cậu than tú dịu dàng, thế là… không nỡ; Lần thứ hai Yến nhị, thấy y ốm yếu thở hổn hển, không… nhẫn tâm; Người thứ ba là Cơ Cốc, thấy chàng học hành bình thường, nhân phẩm bình thường, nếu đã kết bái thì gặp nạn cùng chịu, đại ca, đắc tội!
Chương tam công tử thầm nghiến răng, làm bộ không nhìn rõ bia, nhưng bắn mũi tên về phía Cơ Cốc đằng sau cây.
Cánh tay trái của Cơ Cốc nháy mắt bị mũi dao bắn xuyên qua, máu phun tung tóe. Đám học trò vây xung quanh. Ban đầu Chương tam công tử mừng thầm, sau đó nhảy xuống ngựa, tỏ ra kinh hoảng, khóc lóc nhào tới phía Cơ Cốc – “Đại ca, đệ rất xin lỗi huynh!”
Cơ Cốc gặp tai bay vạ gió, vai đau nhức, mồ hôi túa đầy trên trán. Chương tam ôm chàng, vừa khóc vừa lắc, ngửi thấy trên người có một mùi thơm ngan ngát dễ chịu. Mặt Cơ Cốc tái nhợt, đẩy nàng ra, yếu ớt nói: “Tam đệ, đệ nhắm chuẩn lắm!”
Chương tam ch** n**c mắt ràn rụa khóc lóc, “Đại ca, huynh giết ta đi. Làm chậm trễ thi cử của huynh trưởng, đệ có chết cũng khó mà tạ tội!”
Hoảng tứ cầm vào đuôi tên, nhìn Cơ Cốc, thấp giọng nói: “Đại ca, huynh nhịn một chút, không đau lắm nữa đâu. Nếu đau, huynh cứ nói với đệ.”
Cơ Cốc còn chưa gật đầu thì thằng nhãi này đã rất nhanh chóng rút mũi tên ra, máu tươi bắn lên mặt của chàng thiếu niên ôn nhu, nhưng mặt Hoàng tứ vẫn không hề biến sắc.
Cơ Cốc cảm thấy trái tim như ngừng đập, đau đến mặt không thể thay đổi.
Yến nhị xé một góc áo, đổ thuốc trị thương vào vết thương, nhìn Chương tam, Hoàng tứ, “Nhắm chuẩn ghê, đại ca là kẻ thù giết cha của các người à!”
Hoảng tứ cực kì kinh ngạc và oan uổng, ánh mắt ôn nhu lặng lẽ đầy vẻ trách móc nhìn Nhị ca, Chương tam lại hơi chột dạ, bỗng dưng nắm chặt tay Cơ Cốc, lớn tiếng òa khóc, “Đại ca, đệ sẽ chăm sóc huynh một tấc không rời cho tới khi thương thế huynh khỏi hẳn. Nếu không thể tham gia kì thi Quận lần này, huynh trưởng cũng chớ nản lòng, có đệ ở với huynh!”
Ha ha, đại được mục đích rồi.
***
“Đại ca, tay huynh không đau à? Đừng đọc sách nữa.” Chương thiếu niên bất ngờ nhìn tay phải Cơ cốc đang cầm sách, phần cánh tay được băng trắng nay đã rỉ máu.
Cơ Cốc ngẩng đầu, đưa mắt nhìn Chương tam, sau đó nhẹ nhàng từ từ bỏ tay phải xuống, lạnh nhạt nói: “Vậy thì được, đệ tự làm đi.”
“Vậy cũng không được. Chương Cam ta sao lại là tên tiểu nhân không chịu trách nhiệm như vậy được? Nay ta đã hại huynh trưởng như thế, tất nhiên sẽ muốn chăm sóc tới khi huynh khỏi hắn.” Hai mắt Chương tam cong cong như trăng non, làn da trắng nõn không chút tì vết, mỗi khi cười rộ lên trông cực kì đáng yêu.
Phù Tô thản nhiên nhìn nàng, con ngươi sâu thẳm không thấy đáy có thoảng vẻ thả lỏng không tên, chàng xoa mi tâm, nói: “Ngày mai các sư huynh đều sẽ lên đường, sao đệ không cùng đi? Vốn chỉ vô tâm, cần gì để ý vậy, ngược lại có phần cứng nhắc.”
Chương tam công tử lắc đầu trái phải như con diều trong gió dịp tết, hiên ngang lẫm liệt mà rằng: “Ta đây mà là kẻ tiểu nhân yêu hư vinh không màng huynh đệ như vậy sao? Huynh trưởng khuyên ta vậy muốn đệ dùng cái chết tạ tội hay sao?”
Hoàng tứ ôn như đang bày ván cờ trong góc phòng, luôn trầm mặc không lên tiếng bỗng nhiên ngẩng đầu nhẹ giọng nói: “Đại ca chắc chắn không lo lắng. Dù sao Tam ca cũng không thi nổi. Đệ nói có đúng không, Tam ca?”
Chương tam vừa tức vừa thẹn, cắn chặt răng, lớn tiếng giận dỗi nói: “Đúng!”
Ngược lại, nàng ta thấp giọng nói với Hoàng tứ: “Mặc dù diện mạo Tứ đệ điềm đạm từ ái, nhưng trước nay không màng dầu muối, nếu kì này đệ thi đậu thì có thể được làm quan trong Quận. Nghe nói người Đông quận đẹp lắm, cưới một người rồi thành gia lập nghiệp cũng có thể coi là một chuyện tốt lành, Tứ đệ nghĩ sao?”
Ngón tay thon dài trắng nõn của Hoàng tứ dịch con cờ trắng về phía trước, cười bảo: “Đông quận nào có mỹ nhân gì có thể xứng đôi với đệ chứ? Đệ không làm quan thì thôi, nếu đã làm thì ắt phải đứng trên vạn người. Huống chi, mỹ nhân cũng chẳng để ăn được, tội tình gì mà tìm chi? Không bằng cưới một cái gia tài bản triệu, sau này không lo áo cơm.”
Mặt Chương tam tái xanh. Yến nhị mặc áo bào đen, đang ngồi đối diện Hoàng tứ cầm cờ đen, yếu ớt nói. “Sát. Tứ đệ, đệ lại chết rồi. Nếu đệ làm quan thì nhất định sẽ là tên nịnh thần, quan tam nhất thế gian này.”
Phù Tô đen mắt liếc nhìn ba người bọn họ, chàng nói: “Thế nhân tôn trọng quan thanh minh hiền đức, nhưng người có thể làm quân chưa chắc có thể chứa chấp loại thần tử này. Ai biết làm nịnh thần không trường thọ nhiều phúc hay không? Cá ở nước trong dễ bị chim ưng quắp lấy.”
Hoàng tứ nhặt một quân cờ trắng lên, dịu dàng cười bảo: “Không biết lúc đệ làm quan có thể năng lực gặp được quân chủ như đại ca không nữa. Phải chờ xem tạo hóa thế nào.”
Yến nhị xa xăm nghĩ tới quyển ‘Nhân gian lục’ quyền lực mà ban đêm mình cầm trong tay, một câu hai ý, không mặn không nhạt cười bảo: “Tạo hóa tương lai thế nào, đệ hôm nay có thể nghĩ tới.”
Biểu tình Hoàng tứ rất vi diệu, nhìn thật sâu vào Yến nhị, mãi lâu mới cười một cách đầy ý tứ, “Huynh lại… Đã biết, nhị ca.”
Chư vị sư huynh tính cả Yến nhị, Hoàng tứ đều chuẩn bị rời đi, nháy mắt trong núi vắng tanh. Từ khi bọn họ rời đi, Chương tam không chăm sóc Cơ Cốc tận tâm như trước nữa. Thiếu niên này thường đi bắn chim bắt thỏ, chơi đùa thỏa thích, vui quên trời trăng.
Phù Tô cũng không để ý, chàng ở một tấc tàng thư là đi được mười vạn dặm xung quanh, chẳng màng thế tục.
Nháy mắt đã tới tháng mười, Kim Ô ở Bình đô truyền một tin xấu tới. Tôn phu tử nghe xong thì tức giận đến mức quăng vỡ một cái bình cở từ thời Chu.
Chuyện này có liên quan tới Hoàng tứ công tử luôn ôn nhu dịu dàng không gây chuyện. Trước nay Hoàng tứ luôn thích đoán đề, vì Chiêu quốc thành lập ba trăm năm có lẻ, vương đạo dần suy, Hoàng tứ rảnh rỗi phá một điển cố, nói câu ‘Lễ băng nhạc hoại chi thủy, Hạ vong Thương diệt chi chung’ (*Từ khi Lễ nghi phép tắc bị bãi bỏ, kết thúc chính là Hạ vong Thương diệt) phải luận như thế nào. Cậu cùng mọi người nói rất hay, thao thao bất tuyệt, nói có sách, mách có chứng khiến mọi nghe mê mải. Nào nghề đề quận năm nay lại tà môn, đạo luận đưa ra y vậy không sai một chữ. Trong đầu mọi người toàn là văn chương Hoàng tứ, luận điển luận cứ đều tham khảo cách nói của Hoàng tứ, cuối cùng khi Cửu quốc khanh cùng hội thẩm, thấy chuyện này trở thành một chuyện quay cóp tập thể hoang đường nhất từ khi Bình quốc thành lập đến giờ, kẻ cầm đầu là Hoàng tứ. Lúc này một đám học trò đang chờ chọn ngày xử tử trước tết, họ trò Tôn phu tử chiếm hai phần ba.
Có câu hoài bích có tội, những học sinh không mắc tội viết thư gửi về, kể lại tiền căn hậu quả, thương xót một đám huynh đệ đang đợi chém, thư viết đầy nước mắt.
Tôn phu tử tức đến mức run người, lập tức viết thư gửi cho đệ tử trong triều, nhưng đa số đều từ chối không đồng ứng, nói án này ảnh hưởng rất rộng, huống chi nghe nói trước đây đã tìm cách chạy chuyện này rồi, nhưng hiện tại các quốc gia có tư pháp tự trị, hiện chuyện của Bình quốc do Thế tử nắm giữ trong tay, cả triều đình cũng khó mà nhúng vào. Ý ở ngoài đời rằng, dù ân tình của ân sư không quên, cũng chẳng thể phụ tình đồng môn nhưng quả thật chuyện này lực bất tòng tâm.
Chương tam nghe nói về việc này, mấy ngày nay khóc tới muốn mù mắt, thút thịt không ngừng. Những huynh đệ đó đã ở chung với bọn họ gần hai năm, đều có tình nghĩa không cạn, nay tội danh này rơi xuống, người ngoài dù cảm thấy nàng ta phản ứng hơi quá khích nhưng vẫn cảm thấy đó là vì tình thâm nghĩa trọng.
Phù Tô vẫn luôn trầm tĩnh băng lãnh, nhìn ván cờ mà Hoàng tứ và Yến nhị bày ra chưa kết thúc trước khi đi, hết cầm quân đen rồi mân mê cờ trắng, đêm dài thổi tắt nến, chàng ngồi thẳng tắp sống lưng trong bóng đêm tới khi hừng sáng.
Lúc trời vừa hửng nắng, Phù Tô chợp mắt, gặp Yến nhị trong mộng. Trong bóng đêm, y mang mặt nạ, mặc đồ phán quan, vừa thấy Phù Tô thì lấy hai tay cầm tay chàng, mặt quỷ dữ tợn, giọng hơi khàn thương cảm nói: “Đại ca không cần phải phí tâm, đời này của Yến đã định sẽ có kiếp này, trong lòng tự có tính toán trước kì đại hạn, chẳng qua tham luyến tình nghĩa huynh đệ nhân gian mới lần lữa mãi không đi. Nay coi như mượn cơ hội trần duyên mà rời thôi. Chỉ là việc của Tứ đệ, huynh nhất định không được nhúng tay, thọ nguyên của cậu ta không tận đâu, nhớ kĩ đấy!”
Vừa dứt lời thì Phù Tô cũng sực tỉnh, thầm biết đây là Nhị đệ muốn tới báo mộng. Từ khi còn bé chàng chưa từng được trải qua mấy phần tình nghĩa huynh đệ, nghĩ tới Yến nhị trước nay luôn lạnh lùng cứng rắn mà trong mộng giọng nói nhẹ nhàng, cúi đầu nhìn ván cờ dang dở, nhất thời thấy mũi cay cay, bàn tay như ngọc nâng trán, mãi một lúc lâu mới mở mắt nhìn.
Chàng không hiểu trần duyên là thứ gì, trước nay chỉ là những thứ ngay thẳng được viết trong sách, chưa bao giờ để thừa một ánh mắt nhìn vật người bên cạnh, thế nhưng từ khi gặp cô bé của mình trong kiếp trước, tâm chàng không còn thanh tĩnh nữa, như một đám mây tiên giới rơi xuống trần thế, khiến cho người ta phải ngày ngày tưởng niệm, giãy dụa trong sương mù.
Sách có nói tri kỉ khó cầu, sách có ghi chữ tĩnh dai dẳng tổn thương người. Nhất thời như vừa ngộ ra tình nghĩa anh em, nỗi chua xót và thương mến cứ đan xen lẫn nhau, không ngừng quấy nhiễu, đau đớn khó dằn.
Chàng đẩy cửa sổ ra, Chương tam dùng cắp mắt ngơ ngốc của nữ nhi mà rơi nước mắt, đặt chậu than ở trước cửa phòng các sư huynh đang đợi chém, rải tiền giấy ngập trời không ngừng một giây, như đang gặp ma.
Phù Tô thấy cảnh này, lòng càng đau đớn.
Chàng thu dọn vài bộ đồ, cáo từ với Tôn phu tử. Tôn phu tử xoa đầu Phù Tô, cười khổ, trông còn xấu hơn khi khóc, “Ngay cả con cũng muốn giữ mình sao? Cốc nhi. Đi đi thôi, họa một ngày, vạn niệm dứt, lòng người khó đoán, hoài bích mang thôi! Tâm huyết cả đời của lão phu đã phí hoài rồi, từ nay về sau, không nhận đồ đệ! Nếu có làm gì trái lời thế, sẽ như nghiên mực này!” Áo mũ Tôn phu tử lôi thôi, hoa văn nhếch nhác, cầm nghiên mực đã được mài lõm trong tay rồi ném vào bức ‘Tranh sơn hà’ mà bình thường ông rất đắc chí, một tiếng ầm, tranh bị hủy nghiên mực bể. Ông siết chặc bàn tay dính mực, nước mắt già nua ràn rụa trên mặt.
Khuôn mặt Phù Tô vẫn trong trẻo và lạnh lùng như cũ, quỳ xuống, dập đầu ba cái như lúc làm lễ nhập sư, sau đó, cô độc như lúc tới, bóng người lẻ loi rời đi.
***
Kim Ô, thủ đô của Bình Quốc vẫn náo nhiệt như trước. Ở đây thịnh thế, cuộc sống của bình dân bách tính vẫn không bị thay đổi gì vì sự kiện gian lận tập thể, làm rối kỉ cương của đám học trò. Nếu gặp Mục địa, nước văn lễ thì chắc sẽ gây động tĩnh lớn hơn nhiều.
Phù Tô đánh trống đăng văn, kêu oan trước vương điện.
Theo như lễ pháp của Chiêu, hễ kẻ nào đánh trống đăng văn, trước khi nhập điện phải chịu đánh bằng bàn đinh ba lần, sau đó là ba trăm gậy.
Đến khi Bình vương Thế tử đã rượu thịt no say bắt đầu khai thẩm thì chỉ nhìn thấy một thiếu niên chảy máu đầm đìa. Chàng nằm sấp trên đất, tóc tai rối bời, lúc miễn cưỡng ngẩng đầu thì con mắt lại đen lạ thường.
Bình vương Thế tử ngáp một cái, ngái ngủ, “Kẻ nào dưới điện, đánh trống chuyện gì, mau mau báo ngay! Nếu nói gì không đúng sự thật, lập tức xử trám!”
Giọng Phù Tô khàn khàn, siết chặt hai tay, đây là nơi da thịt còn lành lặn duy nhất. Chàng thản nhiên mở miệng, châm chọc nói: “Cửu nhi, uy phong ngươi lớn thật.”
Bình vương Thế tử còn chưa ngáp xong thì đã té từ vương tọa xuống.
Ba ngày sau, Bình vương Thế tử đích thân thẩm tra lại án gian lận. Cửu khanh đều nói không cần tái thẩm, đã điều tra rõ, Điện hạ yên tâm. Bình vương Thế tử vô cùng lo lắng, đối diện với trận chửi mắng của chúng nhân, đều nói án này nhiều điểm đáng ngờ, liên quan tới kẻ sĩ trí thức, sao có thể kết án qua loa như vậy?
Bình quốc Đình Úy cảm thấy oan uổng muốn chết. Lúc trình án, Thế tử còn đang say xỉn nằm trên gối mỹ nhân, thậm chí còn lười đọc qua, chỉ mới một câu ‘Đã biết’ rồi đuổi hắn đi, sao bây giờ lại thành tội của họ?
Bình vương Thế tử cầm quạt mạ vàng, gõ lên đầu Đình Úy, tức quá mà cười, “Chó cậy oai người làm ấy chuyện vô sỉ này, bình thường lạm dụng uy quyền chưa đủ, bây giờ còn dám đùa giỡn trên đầu bản điện ta. Được lắm, nếu các ngươi làm cho hắn không được thoải mái, sau này hắn khiến ta không thoải mái thì cả đám các người cũng hòng được yên!”
Cửu nhi, A Cửu, trên đời này, ngoại trừ vị đường huynh có thân phận cao quý nhất của mình ra, không ai gọi hắn vậy hết.
Đầu Bình vương Thái tử đau muốn chết, hắn có vắt óc cũng không ngờ đường đường là Thái tử lại đi tránh nạn ở cái nước nhỏ xíu này của hắn, lại còn dính lúy tới một vụ án to thế này. Trong lòng cũng oán trách, đường huynh trước nay vốn thân thiết của mình tới đây mà sao không tìm cách liên lạc cho hắn biết một tiếng, nếu không sao lại xảy ra chuyện này được. Nhưng hắn nào có biết, vào cái này mà hắn đi phát thịt thì ánh mắt ‘thiên lôi địa hỏa’ của Phù Tô đã bị xuyên tạc.
Cuối cùng, điều khiến mọi người bất ngờ là sau ba ngày phúc thẩm án này, lại lấy lí do án oan để thả người, dù việc đoán trúng đề trăm năm khó gặp nhưng tồn tại cũng là chuyện hợp lý thôi, còn mọi người viết giống nhau lại càng cho thấy không phải gian lận, vì nếu là ngươi thì có ngu xuẩn vậy không cơ chứ? Lời nói đanh thép, các chúng thần đều mịt mù, nhưng cũng không dám bác bỏ mặt mũi tiểu tổ tông. Hơn ba mươi người bị cách chức mất công danh chọn lại ngày thi, đích thân Thế tử giám sát.
Miệng vết thương của Phù Tô đã đỡ hơn nhiều, đứng chờ ngoài cửa trường thi, đợi đám người Hoàng tứ đi ra thì mới từ thẳng người lên, Yến nhị được khiêng ra, lúc ở trường thi y phát sốt, cố gắng làm bài xong thì không còn gắng gượng nổi, nhìn thấy Phù Tô thì giọng nói yếu ớt, đức quãng nói “Đại ca, chớ rời đi’, sau đó ngủ thiếp thật say.
Hoàng tứ nhìn Phù Tô, dù quần áo trong ngục bị dơ nhưng áo mũ, dây tóc vẫn chỉnh tề như cũ. Phù Tô thản nhiên cười nói: “Mấy ngày nay Tứ đệ vẫn khỏe chứ?”
Hoàng tứ cũng cười, ôn hòa nói: “Khỏe, cơm nước trong ngục có mấy miếng thịt béo.”
Phù Tô nhớ trước đây hắn thường cướp thịt trong chén chàng, cảm thấy năm tháng quay ngược, nụ cười nhạt nơi khóe miệng cũng sâu hơn, tiếp, “Huynh cũng có ăn thịt.”
Áo quần các sư huynh ở sau đều tả tơi, cực kì chật vật, ôm lấy Phù Tô, xót xa òa khóc.
Phù Tô lo cho bệnh tình Yến nhị, muốn tới y quán để tự xem, nghi trượng của Bình vương Thế tử ra khỏi sân quận, mọi người quỳ xuống, thiếu niên đảo mắt, nhìn đường huynh của mình một cái, không lộ ra gì, chỉ qua loa nói câu ‘Miễn lễ’ như bình thường, sau đó rời đi.
Hoàng tứ nhìn thấy tất thảy mọi chuyện, cười co giật khóe miệng.
Yến nhị chỉ bị mệt mỏi quá độ mà thôi, lại thêm thân thể suy yếu, không có gì đáng ngại, mọi người yên tâm nên cùng về nhà trọ, rửa sạch bụi trần, nằm xuống ngủ thiếp.
Qua ngày hôm sau thì không hiểu sao không thấy hai người Cơ Cốc, Hoàng tứ đâu nữa, cứ như bốc hơi giữa nhân gian, hành lý quần áo đều còn mà người thì không thấy.
Việc Phù Tô mất tích là chuyện duyên phận quỷ dị, tạm không đề cập đến. Giờ nói về Mục địa, vương tử Thành Giác nhận một đạo chỉ của thiên tử, chuẩn bị ba ngìn binh mã, mặc áo giáp quân phục, xuất phát từ phủ Hàm Ninh. Lại kể, thiếu niên này năm nay tròn mười bảy tuổi, mặt mũi da dẻ ngày càng xuất sắc, vì mỹ mạo mà gây ra một hỗn loạn không lớn không nhỏ.
Nghe đồn Quận chúa Triệu quốc đến thăm Mục địa, chưa từng gặp đường huynh này bao giờ, đi tới Thanh Châu, trùng hợp thấy Thành giác đang đem người đi săn thú, thấy gã phong độ như vậy nên hồn phi phách lạc. Nhóm người Thành Giác rời đi, tiểu Quận chúa lại mắc bệnh tương tư, cả đường nhung nhớ, thấy ngày càng xa nước Triệu, đành miễn cưỡng tinh thần tới thủ đô Mục quốc sẽ tìm danh y. Trùng hợp Thế tử đang tuân lệnh vua, đứng ở bên trái Bạch môn chờ tiếp đón đường muội, Quận chúa nước Triệu vừa hạ kiệu thì đã nhìn thấy người mình gặp vào hôm ở trong rừng, mừng rỡ không kiềm được, bệnh lập tức khỏe lại phân nửa. Thế nhưng đưa mắt nhìn thấy các nô bộc ở sau đang quỳ xuống trên đất, thỉnh an Mục vương thế tử thì trái tim đau nhói, vui mừng đau buồn đan xen, phun một ngụm máu, ngất đi.
Nếu chuyện chỉ vậy thì không sao, nhưng sau lại xảy ra việc bậy “Văn Khương Chư Nhi’ như thời Xuân Thu, chuyến đi thăm người thân này lại được tô điểm thêm tám phần màu sắc. Quận chúa nước Triệu cứ ở mãi Mục quốc không đi, Mục vương Thế tử gặp nữ sắc không thu liễm, chuyện hai người ở Mục quốc đã truyền đi khắp nơi. Triệu vương hết lần này tới lần khác vướt thư cho Quận chúa, Quận chúa lại trắng nặng tìm nhẹ, lúc cũng dính một chỗ với đường huynh, nghe đâu nàng ta còn xử lý vài mỹ cơ của Thành Giác, như một người đàn bà ghen tuông, tự coi mình là vợ cả Thế tử. Triệu vương tức đến đổ bệnh không dậy nổi, lệnh cho Tư Đồ nước Triệu mang Vương chỉ tới Mục quốc, ném vào mặt Quận chúa, cưỡng chế đưa đi. Sau này lại tìm qua loa rồi gả nàng ta cho một thế gia đã sa sút ở nước Triệu thì mới coi như dẹp yên được chuyện này.
(*) Văn Khương – Chư Nhi là hai anh em ruột, con vua nước Tề, có tình cảm loạn luân với nhau, trở thành chuyện cười ô danh tới giờ.
Dù Thành Giác tuấn mỹ nhưng đức hạnh không đủ để làm người ta tin phục. Nhưng thứ nổi danh cùng mỹ mạo của Thành Giác không phải là sự vô đức của gã mà chính là khả năng quân sự thiên bẩm. Đầu năm, tiểu quốc nam man khởi binh gây chiến, khiêu khích Mục quốc, Thế tử dẫn theo năm ngàn người, dùng thế lôi đình để mang binh tập kích bất ngờ, trong vòng ba ngày đã diệt hết bảy tộc một nước hơn ba mươi ngàn người. Nam man quỳ xuống cầu hòa, nguyện nạp tiền mỗi năm, cúi đầu xưng thần. Thành Giác nhờ một trận thành danh, danh chấn khắp Đại Chiêu. Chư hầu các nước đều thâm ghen tị căm tức vì sao Mục vương lại sinh được một hảo công tử giỏi giang như vậy, nhưng không thể không nịnh bợ Mục vương Thế tử, nhân cơ hội dâng người đẹp lên, chỉ mong có thể khiến anh hùng ngã xuống lòng mỹ nhân, sau đó tiện thể liên hôn kết thông gia hai nước. Tiếc thay Mục vương phi trị gia rất nghiêm, những cô gái này không gợi được cơn sóng nào. Chẳng qua lễ vật lời hay ý đẹp dâng lên Thái hậu ngày càng nhiều, chỉ vì mọi người đều biết, hôn nhân của Mục vương Thế tử nằm trong tay Thái hậu. Nhưng Lão Thái hậu vẫn cứ cười tủm tỉm, nói Thế tử còn nhỏ, không có gì vội, bụng thầm nghĩ, trên đời này nào có ai có thể thể xứng đôi với minh châu nhi của bà. Nhưng lại nghĩ tới nếu như phượng hoàng nhi còn sống, đứng chung một chỗ với minh châu nhi của bà, không biết là với phong thái đó, ai có thể đè được ai, nghĩ tới đây trong lòng không kiềm được nỗi xót thương.
Chuyện này là tiền đề, tới đây thì thôi. Một thiếu niên dụng binh như thần nay lại nhận lệnh vua, mang theo ba ngàn binh mã, đi thẳng về hướng đông. Các quốc gia chư hầu trên đường đều mở tiệc chiêu đãi Thành Giác, tặng rất nhiều kì trân dị giáp nhưng vẫn không tìm được chút manh mối nào từ hành động lần này của gã. Thành Giác đi kì này cũng không phô trương, chỉ mặc một bộ áo giáp đỏ thẫm, đứng giữa các binh sĩ, ánh mắt hắn sáng ngời kiêu căng, càng có phần chói mắt.
Ngày đông rét mướt, Thành Giác cưỡi tuấn mã Thù Vân trong núi tuyết trắng, đeo tên vàng, chạy như tên bắn trên đường núi. Ba ngàn binh mã ở sau cũng thở ra khói trắng. Vẻ đẹp của Thù Vân giống như đã bước qua màn sương mù trần thế, chạy như bay, mang theo thiếu niên tướng quân đội quan, cầm thương tua đỏ bạch châu rong ruổi ở chân trời.
Đường ngày càng mù sương, lúc phi qua núi Việt Cơ đã sẽ lập tức tiến vào địa phận Bình quốc.
Việt Cơ tương truyền là phu nhân Việt quốc, vẻ ngoài quyến rũ đẹp đẽ, Việt quốc diệt, phu nhân chết trận, hóa thành núi, đời đời kiếp kiếp bảo vệ con dân nước Việt, vì thế núi này được đặt tên là núi Việt Cơ. Núi Việt cơ sương mù quanh năm, cứ như lớp lụa trắng trên người phu nhân đã hóa đá, càng thêm phần kiều diễm.
Ngày hôm đó, trời rất tối, đã tới giờ thìn mà mặt trời chỉ mới từ từ leo l*n đ*nh núi. Sương mù dần tan, mặc dù núi xanh khô khốc nhưng mặt trời chiếu xuống lại thấy có phần sáng sủa đặt biệt.
Con khoái mã của Thành Giác phi nhanh, gã trị quân rất nghiêm, suốt dọc đường không binh tướng nào dám mở miệng nói chuyện phiếm, quen đi trong sương lạnh, sĩ khí vẫn cao vang.
Bỗng dưng, dưới chân núi Việt Cơ xuất hiện một tên kì quái hấp dẫn ánh mắt của mọi người.
Nam tử đội mũ rơm, chân mang giày vải, nhìn không rõ mặt.
Thành Giác vừa nhìn thấy y thì bất ngờ nở nụ cười, phất tay ra lệnh mọi người dừng lại.
“Vân khanh đến đây.”
Nam tử cũng cười, lấy một cái hộp bằng gõ đàn trong ngực đưa ra, quỳ một gối, nhẹ nhàng nói: “Điện hạ đã tới, sao dám không thân nghênh? Đây là lễ mọn, xin quân chủ nhận cho.”
Thành Giác vươn bàn tay thon dài, nam nhân chầm chậm dâng hộp lên. Thành Giác mở hòm ra, ngửi thấy một mùi hương tanh nồng, mắt híp lại nhưng lông mày giãn ra.
Nháy mắt mây đen kéo tới, sấm nổ vang đùng.
Nam nhân cởi mũ rơm xuống, dịu dàng nói: “Điện hạ, trời sắp mưa rồi, đỡ giúp tiểu thần một chút, không uổng công thần gian khổ như vậy.”
Thành Giác cúi người nhìn y, có vẻ như không hiểu những gì y nói, sau đó nháy mắt bị nam nhân kia siết chặt cổ, nhẹ nhàng cười nói bên tai tảo y thiếu niên, thở ra hơi nóng, “Điện hạ số vượng, đỡ giúp tiểu thần một chút, không uổng công thần gian khổ như vậy.”
Chỉ trong nháy mắt, sấm sét nổi lên, đánh xuống áo giáp.
Chương này thế nào?
✦ Truyện mới cập nhật
Xem tất cả →Thập Niên 70: Bắt Chị Xuống Nông Thôn? Chị Dỡ Cả Lò Nhà Cưng
150 ch
Khi Kẻ Bị Vạn Người Ghét Lộ Thân Phận Yêu Qua Mạng
8 ch
Tiệm Bánh Mì Phố Nam - Tùng Tuyết Tô
80 ch
Vân Nê - Mang Quả Gia Lạt
7 ch
Tiêu Không Quyết
6 ch
Chàng Trai Ốc Biển
13 ch
Ma Tôn, Phu Nhân Lại Chạy Rồi
9 ch
Xuyên Thành Nữ Phụ Ác Độc: Nàng Trở Mình Làm Giàu Ở Thôn Dã
115 ch
Chương đọc hay không? ☕
Ủng hộ 5k–50k VND để admin duy trì server và thêm truyện mới.